Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Tư vấn tâm lý học đường: Đưa vào quản trị nhà trường

2026/09/03 16:31

GD&TĐ - Theo PGS.TS Trần Thành Nam - Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, để tư vấn tâm lý học đường chuyển biến thực chất, năm học 2026 - 2027 cần thay đổi từ cách tổ chức, phát hiện sớm đến đo lường hiệu quả, đưa hoạt động này trở thành một chức năng thường xuyên của quản trị nhà trường.



Còn khoảng cách từ chủ trương đến năng lực thực thi

- Công tác tư vấn tâm lý học sinh luôn được quan tâm trong công tác chỉ đạo; tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động này chưa đạt như mong đợi. Theo ông, đâu là những nguyên nhân chính?
- Chỉ thị 31/CT-TTg về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026 - 2027 tiếp tục đặt yêu cầu nâng cao hiệu quả tư vấn tâm lý, sức khỏe học đường, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, nhân văn và tăng khả năng nhận diện, phòng ngừa nguy cơ từ sớm.
Đây là bước tiếp nối của quá trình chính sách đã diễn ra nhiều năm, gần nhất là Thông tư 18/2025/TT-BGDĐT về tư vấn học đường và công tác xã hội trong trường học. Thông tư mới đã tiến bước đáng kể khi xác định mục tiêu không chỉ là giải quyết vấn đề đã xảy ra mà còn phải giúp người học phòng ngừa, nhận diện khó khăn và biết tìm kiếm sự trợ giúp.
Nhưng chúng ta đang có một nghịch lý khá rõ. Bộ GD&ĐT cho biết, cuối năm 2025, 100% cơ sở giáo dục phổ thông đã thành lập tổ tư vấn học đường và khoảng 90% có phòng tư vấn riêng hoặc dùng chung. Nhưng nhân viên tư vấn chuyên trách mới có ở khoảng 5% số trường phổ thông, trong bối cảnh cần nhu cầu nhân sự cho hơn 52.000 trường.
Hai con số này đặt cạnh nhau cho thấy vấn đề không còn chủ yếu là “có một thiết chế, tổ chức tư vấn”, mà là thiết chế, tổ chức đó có thực sự đủ năng lực để thực hiện chức năng của mình.
- Ông có thể làm rõ hơn nguyên nhân tư vấn tâm lý học đường chưa đạt như mong đợi?
- Nguyên nhân đầu tiên chính là khoảng trống nhân lực chuyên nghiệp. Khi chỉ khoảng 5% trường phổ thông có nhân viên tư vấn chuyên trách, phần lớn nhiệm vụ sẽ rơi vào giáo viên chủ nhiệm, cán bộ Đoàn, giáo viên kiêm nhiệm hoặc tổ tư vấn gồm những người vốn đã có một khối lượng công việc lớn.
Điều đó không có nghĩa giáo viên không thể tham gia hỗ trợ tâm lý học sinh. Ngược lại, giáo viên là người quan sát học sinh hằng ngày và có vai trò đặc biệt trong phát hiện sớm. Nhưng nhận diện nguy cơ không đồng nghĩa với đánh giá đúng, tham vấn hiệu quả. Đặc biệt, cách làm từ vai trò của giáo viên có thể hoàn toàn trái ngược với những nguyên tắc căn bản của tham vấn chuyên trách.
Thứ hai, chúng ta đánh đồng “có tổ chức” với “có dịch vụ”. Một trường có quyết định thành lập tổ tư vấn, bảng tên phòng tư vấn, quy trình, một giáo viên được phân công chưa đồng nghĩa học sinh thực sự tin tưởng để bước vào đó.
Thứ ba là nhu cầu thực tế lớn hơn rất nhiều so với số học sinh đang tìm đến dịch vụ. Dữ liệu UNICEF cho thấy, 21,7% thanh thiếu niên Việt Nam báo cáo từng có vấn đề sức khỏe tâm thần trong vòng một năm, trong đó lo âu được ghi nhận ở 18,6% và trầm cảm ở 4,3%.
Theo một khảo sát khác được UNICEF công bố, chưa đến 8% trẻ vị thành niên có vấn đề cảm xúc hoặc hành vi đã tiếp cận dịch vụ hỗ trợ hay tư vấn, chỉ 5,1% cha mẹ nhận ra con mình cần được giúp đỡ. Như vậy, khoảng cách ở đây không đơn thuần là thiếu chuyên gia. Đó còn là khoảng cách về nhận thức, thái độ kỳ thị, khả năng nhận diện và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp một cách khoa học.
Một nguyên nhân sâu hơn là tư vấn tâm lý ở nhiều nơi vẫn vận hành theo logic xử lý sự cố. Học sinh đánh nhau thì tư vấn, kết quả học tập sa sút thì gọi lên, có dấu hiệu trầm cảm thì lo lắng lập tức chuyển chuyên gia. Cách làm này khiến tư vấn tâm lý dễ bị hiểu thành nơi dành cho học sinh “có vấn đề” chứ không phải một hệ sinh thái hỗ trợ đa tầng với những chương trình hỗ trợ phổ quát cho mọi học sinh, hỗ trợ sớm cho nhóm nguy cơ và can thiệp mục tiêu chuyên sâu cho những trường hợp nặng.
Cuối cùng là thiếu cơ chế đo lường đánh giá hiệu quả. Nhiều nơi vẫn chỉ báo cáo hoạt động tư vấn tâm lý bằng số buổi chuyên đề, số học sinh tham gia, số cuộc tư vấn được ghi trong sổ sách.
Các chỉ số này cho biết hoạt động đã diễn ra nhưng chưa nói được học sinh được hưởng dịch vụ chất lượng và tiến triển ra sao; bao nhiêu trường hợp nguy cơ được phát hiện sớm, bao nhiêu trường hợp đã vượt qua vấn đề, bao nhiêu ca được chuyển tuyến thành công đã quay lại hội nhập trường học; học sinh có cảm thấy được bảo mật và an toàn khi sử dụng dịch vụ tư vấn không, cha mẹ có hài lòng về dịch vụ không.
Thông tư 18 đã yêu cầu nhà trường thu thập, phân tích thông tin, phát hiện sớm, phân loại nhu cầu và thường xuyên kiểm tra, giám sát kế hoạch. Vấn đề của năm học tới là xây dựng một hệ tiêu chí đo lường với hệ thống chỉ số chất lượng dịch vụ tư vấn để giám sát hiệu quả thực thi.
PGS.TS Trần Thành Nam.


Đưa hiệu quả thực chất thành thước đo tư vấn tâm lý

- Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, theo ông, đâu là những việc cần được ưu tiên trong năm học mới?
- Để tạo chuyển biến thực chất trong năm học mới, hiệu quả tư vấn tâm lý không nên đo bằng số phòng tư vấn mới, số hội thảo hay sự kiện đã tổ chức, mà bằng những thay đổi thực tế đối với học sinh.
Có thể bắt đầu từ những câu hỏi cụ thể: Học sinh có biết tìm ai khi gặp khủng hoảng? Mỗi trường đã có ít nhất một đầu mối được đào tạo đủ năng lực? Bao nhiêu trường hợp được phát hiện trước khi xảy ra sự cố nghiêm trọng và thời gian từ khi phát hiện đến khi hỗ trợ là bao lâu? Có bao nhiêu trường hợp được chuyển tuyến thành công đến chuyên gia? Học sinh có thực sự tin tưởng rằng thông tin của mình được bảo mật? Phụ huynh có biết nhận diện các dấu hiệu cảnh báo để hỗ trợ con kịp thời?
Bên cạnh đó, cần quan tâm đến những chỉ báo phản ánh sức khỏe tinh thần ở quy mô toàn trường như mức độ hạnh phúc, chất lượng cuộc sống, mức độ lo âu, trầm cảm của học sinh.
Nếu phải chọn một ưu tiên cho năm học 2026 - 2027 trong công tác này, tôi sẽ chọn mục tiêu “mỗi học sinh đều có năng lực nhận diện những khó khăn tâm lý và biết tìm kiếm nguồn trợ giúp phù hợp khi cần”. Khi giáo viên biết nhận diện, trường có quy trình phân tầng, chuyên gia được dùng cho đúng các ca cần chuyên môn, gia đình được kết nối và dịch vụ bên ngoài có cơ chế tiếp nhận, một hệ thống còn thiếu người vẫn có thể hoạt động tốt hơn rất nhiều.
- Xin cảm ơn ông!
“Bài toán của tư vấn tâm lý học đường hiện nay đã đi qua giai đoạn chứng minh rằng nó “cần thiết” hay “quan trọng”. Điều cần làm ở năm học mới là biến tư vấn tâm lý từ hoạt động phụ trợ, bị động thành chức năng thường xuyên của quản trị nhà trường. Trọng tâm là chủ động phòng ngừa cho số đông, chủ động phát hiện sớm nhóm nguy cơ và hỗ trợ chuyên sâu đúng người, đúng lúc”.

Giờ học tại Phenikaa School. Ảnh: NTCC


Còn khoảng cách từ chủ trương đến năng lực thực thi

- Công tác tư vấn tâm lý học sinh luôn được quan tâm trong công tác chỉ đạo; tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động này chưa đạt như mong đợi. Theo ông, đâu là những nguyên nhân chính?
- Chỉ thị 31/CT-TTg về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026 - 2027 tiếp tục đặt yêu cầu nâng cao hiệu quả tư vấn tâm lý, sức khỏe học đường, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, nhân văn và tăng khả năng nhận diện, phòng ngừa nguy cơ từ sớm.
Đây là bước tiếp nối của quá trình chính sách đã diễn ra nhiều năm, gần nhất là Thông tư 18/2025/TT-BGDĐT về tư vấn học đường và công tác xã hội trong trường học. Thông tư mới đã tiến bước đáng kể khi xác định mục tiêu không chỉ là giải quyết vấn đề đã xảy ra mà còn phải giúp người học phòng ngừa, nhận diện khó khăn và biết tìm kiếm sự trợ giúp.
Nhưng chúng ta đang có một nghịch lý khá rõ. Bộ GD&ĐT cho biết, cuối năm 2025, 100% cơ sở giáo dục phổ thông đã thành lập tổ tư vấn học đường và khoảng 90% có phòng tư vấn riêng hoặc dùng chung. Nhưng nhân viên tư vấn chuyên trách mới có ở khoảng 5% số trường phổ thông, trong bối cảnh cần nhu cầu nhân sự cho hơn 52.000 trường.
Hai con số này đặt cạnh nhau cho thấy vấn đề không còn chủ yếu là “có một thiết chế, tổ chức tư vấn”, mà là thiết chế, tổ chức đó có thực sự đủ năng lực để thực hiện chức năng của mình.
- Ông có thể làm rõ hơn nguyên nhân tư vấn tâm lý học đường chưa đạt như mong đợi?
- Nguyên nhân đầu tiên chính là khoảng trống nhân lực chuyên nghiệp. Khi chỉ khoảng 5% trường phổ thông có nhân viên tư vấn chuyên trách, phần lớn nhiệm vụ sẽ rơi vào giáo viên chủ nhiệm, cán bộ Đoàn, giáo viên kiêm nhiệm hoặc tổ tư vấn gồm những người vốn đã có một khối lượng công việc lớn.
Điều đó không có nghĩa giáo viên không thể tham gia hỗ trợ tâm lý học sinh. Ngược lại, giáo viên là người quan sát học sinh hằng ngày và có vai trò đặc biệt trong phát hiện sớm. Nhưng nhận diện nguy cơ không đồng nghĩa với đánh giá đúng, tham vấn hiệu quả. Đặc biệt, cách làm từ vai trò của giáo viên có thể hoàn toàn trái ngược với những nguyên tắc căn bản của tham vấn chuyên trách.
Thứ hai, chúng ta đánh đồng “có tổ chức” với “có dịch vụ”. Một trường có quyết định thành lập tổ tư vấn, bảng tên phòng tư vấn, quy trình, một giáo viên được phân công chưa đồng nghĩa học sinh thực sự tin tưởng để bước vào đó.
Thứ ba là nhu cầu thực tế lớn hơn rất nhiều so với số học sinh đang tìm đến dịch vụ. Dữ liệu UNICEF cho thấy, 21,7% thanh thiếu niên Việt Nam báo cáo từng có vấn đề sức khỏe tâm thần trong vòng một năm, trong đó lo âu được ghi nhận ở 18,6% và trầm cảm ở 4,3%.
Theo một khảo sát khác được UNICEF công bố, chưa đến 8% trẻ vị thành niên có vấn đề cảm xúc hoặc hành vi đã tiếp cận dịch vụ hỗ trợ hay tư vấn, chỉ 5,1% cha mẹ nhận ra con mình cần được giúp đỡ. Như vậy, khoảng cách ở đây không đơn thuần là thiếu chuyên gia. Đó còn là khoảng cách về nhận thức, thái độ kỳ thị, khả năng nhận diện và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp một cách khoa học.
Một nguyên nhân sâu hơn là tư vấn tâm lý ở nhiều nơi vẫn vận hành theo logic xử lý sự cố. Học sinh đánh nhau thì tư vấn, kết quả học tập sa sút thì gọi lên, có dấu hiệu trầm cảm thì lo lắng lập tức chuyển chuyên gia. Cách làm này khiến tư vấn tâm lý dễ bị hiểu thành nơi dành cho học sinh “có vấn đề” chứ không phải một hệ sinh thái hỗ trợ đa tầng với những chương trình hỗ trợ phổ quát cho mọi học sinh, hỗ trợ sớm cho nhóm nguy cơ và can thiệp mục tiêu chuyên sâu cho những trường hợp nặng.
Cuối cùng là thiếu cơ chế đo lường đánh giá hiệu quả. Nhiều nơi vẫn chỉ báo cáo hoạt động tư vấn tâm lý bằng số buổi chuyên đề, số học sinh tham gia, số cuộc tư vấn được ghi trong sổ sách.
Các chỉ số này cho biết hoạt động đã diễn ra nhưng chưa nói được học sinh được hưởng dịch vụ chất lượng và tiến triển ra sao; bao nhiêu trường hợp nguy cơ được phát hiện sớm, bao nhiêu trường hợp đã vượt qua vấn đề, bao nhiêu ca được chuyển tuyến thành công đã quay lại hội nhập trường học; học sinh có cảm thấy được bảo mật và an toàn khi sử dụng dịch vụ tư vấn không, cha mẹ có hài lòng về dịch vụ không.
Thông tư 18 đã yêu cầu nhà trường thu thập, phân tích thông tin, phát hiện sớm, phân loại nhu cầu và thường xuyên kiểm tra, giám sát kế hoạch. Vấn đề của năm học tới là xây dựng một hệ tiêu chí đo lường với hệ thống chỉ số chất lượng dịch vụ tư vấn để giám sát hiệu quả thực thi.
PGS.TS Trần Thành Nam.


Đưa hiệu quả thực chất thành thước đo tư vấn tâm lý

- Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, theo ông, đâu là những việc cần được ưu tiên trong năm học mới?
- Để tạo chuyển biến thực chất trong năm học mới, hiệu quả tư vấn tâm lý không nên đo bằng số phòng tư vấn mới, số hội thảo hay sự kiện đã tổ chức, mà bằng những thay đổi thực tế đối với học sinh.
Có thể bắt đầu từ những câu hỏi cụ thể: Học sinh có biết tìm ai khi gặp khủng hoảng? Mỗi trường đã có ít nhất một đầu mối được đào tạo đủ năng lực? Bao nhiêu trường hợp được phát hiện trước khi xảy ra sự cố nghiêm trọng và thời gian từ khi phát hiện đến khi hỗ trợ là bao lâu? Có bao nhiêu trường hợp được chuyển tuyến thành công đến chuyên gia? Học sinh có thực sự tin tưởng rằng thông tin của mình được bảo mật? Phụ huynh có biết nhận diện các dấu hiệu cảnh báo để hỗ trợ con kịp thời?
Bên cạnh đó, cần quan tâm đến những chỉ báo phản ánh sức khỏe tinh thần ở quy mô toàn trường như mức độ hạnh phúc, chất lượng cuộc sống, mức độ lo âu, trầm cảm của học sinh.
Nếu phải chọn một ưu tiên cho năm học 2026 - 2027 trong công tác này, tôi sẽ chọn mục tiêu “mỗi học sinh đều có năng lực nhận diện những khó khăn tâm lý và biết tìm kiếm nguồn trợ giúp phù hợp khi cần”. Khi giáo viên biết nhận diện, trường có quy trình phân tầng, chuyên gia được dùng cho đúng các ca cần chuyên môn, gia đình được kết nối và dịch vụ bên ngoài có cơ chế tiếp nhận, một hệ thống còn thiếu người vẫn có thể hoạt động tốt hơn rất nhiều.
- Xin cảm ơn ông!
“Bài toán của tư vấn tâm lý học đường hiện nay đã đi qua giai đoạn chứng minh rằng nó “cần thiết” hay “quan trọng”. Điều cần làm ở năm học mới là biến tư vấn tâm lý từ hoạt động phụ trợ, bị động thành chức năng thường xuyên của quản trị nhà trường. Trọng tâm là chủ động phòng ngừa cho số đông, chủ động phát hiện sớm nhóm nguy cơ và hỗ trợ chuyên sâu đúng người, đúng lúc”.

Chia sẻ
tư vấn tâm lý học đườngđưa vào quản trị nhà trườngPGS.TS Trần Thành Namcông tác tư vấn tâm lý học sinhtư vấn học đườngcông tác xã hội trong trường họctư vấn tâm lý sức khỏe học đường
Theo Hiếu Nguyễn (thực hiện)
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/08/29 07:28 (GMT+7)

Xem thêm Trao đổi - kết nối

Nâng cao chất lượng giáo dục từ sự tiến bộ của từng học sinh
Trao đổi - kết nối

Nâng cao chất lượng giáo dục từ sự tiến bộ của từng học sinh

Linh hoạt triển khai Giáo dục địa phương với 6 phân môn
Trao đổi - kết nối

Linh hoạt triển khai Giáo dục địa phương với 6 phân môn

Nâng cao chất lượng giáo dục từ đổi mới dạy học ngoại ngữ và AI
Trao đổi - kết nối

Nâng cao chất lượng giáo dục từ đổi mới dạy học ngoại ngữ và AI

Chuyển đổi số ở trường học vùng quê: Đổi mới bắt đầu từ những việc hằng ngày
Trao đổi - kết nối

Chuyển đổi số ở trường học vùng quê: Đổi mới bắt đầu từ những việc hằng ngày

Thu hẹp khoảng cách giữa kỳ vọng của doanh nghiệp với năng lực của cử nhân trẻ
Trao đổi - kết nối

Thu hẹp khoảng cách giữa kỳ vọng của doanh nghiệp với năng lực của cử nhân trẻ

Hướng tới hệ thống đánh giá học sinh toàn diện và bền vững
Trao đổi - kết nối

Hướng tới hệ thống đánh giá học sinh toàn diện và bền vững

Mới nhất

2026-10-16 08:12

Định hướng nghề cho học sinh THCS 'sâu rễ, bền gốc'

GD&TĐ - Trong thời đại công nghệ số, việc chọn ngành, chọn nghề trong tương lai cho học sinh là điều mà nhiều cha mẹ, thầy cô quan tâm định hướng sớm.

Định hướng nghề cho học sinh THCS 'sâu rễ, bền gốc'
2026-10-16 08:11

Biến bất đồng thành đối thoại

GD&TĐ - Khi một đứa trẻ nói “con ghét bố mẹ”, điều đó không có nghĩa mọi giới hạn trong gia đình cần được gỡ bỏ, cũng không có nghĩa cha mẹ phải chấp nhận mọi mong muốn của con.

Biến bất đồng thành đối thoại
2026-10-16 08:11

Hưng Yên tổ chức tưởng niệm 60 năm ngày hy sinh của cô giáo Bùi Thị Thanh Xuân

GD&TĐ - Lễ tưởng niệm dự kiến được tổ chức vào ngày 21/10 tại Di tích lịch sử quốc gia Khu tưởng niệm 21/10 (xã Tây Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên).

Hưng Yên tổ chức tưởng niệm 60 năm ngày hy sinh của cô giáo Bùi Thị Thanh Xuân
2026-10-16 08:10

Thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững

GD&TĐ - Ngày 15/10/2026, thay mặt BCH Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Kết luận số 105-KL/TW Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững
2026-10-16 03:50

Đắk Lắk phê duyệt kết quả xét thăng hạng cho hơn 3.200 viên chức giáo dục

GD&TĐ - Sở GD&ĐT Đắk Lắk vừa phê duyệt kết quả xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, đồng thời yêu cầu rà soát tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.

Đắk Lắk phê duyệt kết quả xét thăng hạng cho hơn 3.200 viên chức giáo dục
2026-10-16 03:50

Mở cửa tri thức từ những ngôi trường nội trú liên cấp biên giới Lai Châu

GD&TĐ - Năm học 2026–2027 đánh dấu bước chuyển mới của giáo dục vùng biên Lai Châu khi 5 trường PTNT liên cấp TH&THCS được khánh thành, đưa vào sử dụng.

Mở cửa tri thức từ những ngôi trường nội trú liên cấp biên giới Lai Châu
2026-10-16 03:49

Giữ tiếng Mông từ giảng đường đại học

GD&TĐ - Đào tạo ngành Sư phạm tiếng Mông mở ra hướng đi mới trong đào tạo nguồn nhân lực giáo dục vùng cao, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa.

Giữ tiếng Mông từ giảng đường đại học
2026-10-16 03:49

Giáo dục STEM trao cơ hội cho học sinh tự kiến tạo tương lai

GD&TĐ - Để triển khai giáo dục STEM hiệu quả cần có sự đồng bộ giữa chương trình giảng dạy, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và phương pháp đánh giá.

Giáo dục STEM trao cơ hội cho học sinh tự kiến tạo tương lai
2026-10-16 03:48

Coi trọng giá trị hợp tác quốc tế trong nhiệm vụ khoa học song phương

GD&TĐ - Bộ GD&ĐT dự thảo quy định quản lý nhiệm vụ KHCN, đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ hợp tác quốc tế theo hình thức hợp tác song phương.

Coi trọng giá trị hợp tác quốc tế trong nhiệm vụ khoa học song phương
2026-10-16 03:48

Đại học phải trở thành động lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo

GD&TĐ - Các chuyên gia kiến nghị giải pháp để trường đại học thực sự trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ.

Đại học phải trở thành động lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo