GD&TĐ - Ở các loài động vật có vú, trong đó có con người, con cái thường sống lâu hơn con đực. Tuy nhiên, tuổi thọ kéo dài cũng đi kèm với nhiều hệ lụy về mặt sức khỏe.
Xu hướng rõ rệt ở động vật có vú
Từ lâu, các nhà sinh học đã nhận thấy một quy luật phổ biến. Đó là các loài động vật cái thường sống lâu hơn con đực. Ở người, phụ nữ có tuổi thọ trung bình cao hơn nam giới khoảng 5 năm, và xu hướng này tồn tại suốt hàng thế kỷ. Tuy nhiên, con người không phải là ngoại lệ duy nhất.
Trong thế giới tự nhiên, khoảng cách tuổi thọ giữa hai giới xuất hiện ở hầu hết các loài, dù mức độ và hướng chênh lệch rất khác nhau.
Mới đây, chuyên gia Johanna Staerk, nhà nhân khẩu học tiến hóa và các cộng sự tại Đại học Nam Đan Mạch, đã tổng hợp dữ liệu từ hàng trăm loài chim và động vật có vú để tìm hiểu vì sao tuổi thọ giữa hai giới lại khác biệt như vậy. Kết quả được công bố trên tạp chí khoa học Science Advances cho thấy, ở các loài động vật có vú, con cái có xu hướng sống lâu hơn con đực.
Khoảng cách này càng rõ rệt trong môi trường tự nhiên. Giới khoa học hiện có hai hướng lý giải chính khi tuổi thọ giữa các giới không đồng nhất. Thứ nhất là giả thuyết giới tính dị giao tử, giới tính mang hai nhiễm sắc thể khác nhau (XY hoặc ZW) dễ mắc lỗi di truyền hơn, nên có tuổi thọ ngắn hơn.
Thứ hai là giả thuyết chọn lọc tình dục và đánh đổi vòng đời. Các đặc điểm giúp tăng khả năng sinh sản thường làm giảm tuổi thọ. Ở động vật có vú, con đực thường phải cạnh tranh khốc liệt để giành bạn tình, khiến chúng dễ bị thương, hao mòn sức lực và ít quan tâm đến việc sống sót lâu dài.
Đơn cử, ở loài voi châu Phi, sự khác biệt này thể hiện rất rõ. Voi cái có thể sống tới 60 năm, trong khi voi đực hiếm khi vượt quá 40 tuổi. Voi đực phải sống đơn độc, di chuyển liên tục và thường xuyên giao đấu với nhau để tranh giành con cái. Ở nai sừng tấm, con cái cũng sống lâu gấp đôi con đực, trung bình 17 đến 22 năm.
Yếu tố di truyền cũng góp phần quan trọng. Ở động vật có vú, con đực mang cặp nhiễm sắc thể XY, khiến chúng dễ bị ảnh hưởng bởi các đột biến gen lặn trên nhiễm sắc thể X. Bên cạnh đó, testosterone, một dạng hormone sinh dục nam, có thể làm suy yếu hệ miễn dịch, khiến con đực dễ mắc bệnh hơn.
Tuy nhiên, theo nhiều nhà khoa học, nguyên nhân sâu xa vẫn nằm ở chọn lọc tình dục. Ở các loài đa thê như hươu đỏ hay sư tử, con đực phát triển cơ thể lớn, sừng nhọn hoặc bờm dày. Đây là những đặc điểm giúp giành quyền giao phối nhưng đồng thời làm tăng rủi ro chấn thương, tiêu hao năng lượng và giảm tuổi thọ.
Ở con người, “lợi thế sống lâu hơn” của phụ nữ là điều phổ biến trên toàn cầu. Ở Nhật Bản, tuổi thọ trung bình của nữ giới đạt hơn 87 tuổi, trong khi nam giới là 81. Ngay cả ở các cộng đồng săn bắt hái lượm như người Hadza ở Tanzania, phụ nữ cũng có xu hướng sống lâu hơn.
Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai giới ở người không quá lớn nếu so với các loài linh trưởng khác. Ở tinh tinh hay khỉ đột, con cái có thể sống lâu hơn con đực tới 10 năm. Các nhà khoa học cho rằng, ở người, sự cạnh tranh để giành bạn tình đã giảm bớt so với các loài linh trưởng hoang dã, giúp tuổi thọ giữa hai giới thu hẹp lại.
Ở động vật có vú, con cái sống lâu hơn con đực.
Câu chuyện ngược lại
Nếu ở động vật có vú, con cái sống lâu hơn, thì ở chim, điều ngược lại thường xảy ra. Trong nghiên cứu của chuyên gia Johanna trên 648 loài chim, 68% loài có con đực sống lâu hơn trung bình 5%. Ngoài tự nhiên, khoảng cách này thậm chí vượt 25%.
Điều này một phần do khác biệt di truyền. Ở chim, con cái thường mang cặp nhiễm sắc thể ZW khiến chúng dễ gặp rủi ro di truyền hơn. Tuy nhiên, nguyên nhân chính vẫn là sinh sản. Chim mái phải tiêu hao rất nhiều năng lượng để sản xuất trứng, ấp và nuôi con nên cơ thể nhanh chóng suy yếu. Ở các loài như vịt hay chim biết hót, giai đoạn sinh sản liên tục khiến chim mái thường chết sớm hơn chim trống.
Không chỉ ở chim và thú, sự chênh lệch tuổi thọ giữa hai giới còn phổ biến trong nhiều nhóm động vật khác. Ở côn trùng, bướm đêm và phù du cái thường chết sớm sau khi đẻ trứng, trong khi con đực sống lâu hơn. Ngược lại, ở các loài xã hội như kiến hay ong, con cái lại chiếm ưu thế tuyệt đối.
Ong chúa có thể sống hàng chục năm, trong khi ong đực chỉ tồn tại vài tuần. Lý do là ong chúa được cả đàn bảo vệ, không phải đối mặt với nguy cơ săn mồi hay cạn kiệt năng lượng.
Ở lưỡng cư và bò sát, kết quả là sự pha trộn. Ếch đực chết sớm hơn do mất sức khi kêu gọi bạn tình và đánh nhau, còn ếch cái đôi khi kiệt sức vì sản xuất trứng.
Cá thì càng phức tạp hơn. Ở cá gai, con đực chăm sóc trứng một mình nên thường chết ngay sau mùa sinh sản, trong khi con cái sống để sinh thêm lứa khác. Ngược lại, ở những loài cá cái đẻ số lượng trứng khổng lồ, chúng có tuổi thọ ngắn hơn con đực.
Dù ở nhiều loài, con cái có xu hướng sống lâu hơn, điều đó không đồng nghĩa với việc chúng sống khỏe mạnh hơn. Ở người, phụ nữ thường phải đối mặt với nhiều năm sống trong tình trạng sức khỏe suy giảm do các bệnh mãn tính, loãng xương hay chứng mất trí nhớ. Tương tự, ở động vật, con cái có thể sống lâu hơn nhưng lại phải trải qua giai đoạn dài suy yếu thể chất hoặc mất khả năng sinh sản. Do đó, “lợi thế sống lâu hơn” có thể đi kèm với cái giá sức khỏe.
Sinh sản khiến cơ thể chim mái suy yếu.
Xu hướng rõ rệt ở động vật có vú
Từ lâu, các nhà sinh học đã nhận thấy một quy luật phổ biến. Đó là các loài động vật cái thường sống lâu hơn con đực. Ở người, phụ nữ có tuổi thọ trung bình cao hơn nam giới khoảng 5 năm, và xu hướng này tồn tại suốt hàng thế kỷ. Tuy nhiên, con người không phải là ngoại lệ duy nhất.
Trong thế giới tự nhiên, khoảng cách tuổi thọ giữa hai giới xuất hiện ở hầu hết các loài, dù mức độ và hướng chênh lệch rất khác nhau.
Mới đây, chuyên gia Johanna Staerk, nhà nhân khẩu học tiến hóa và các cộng sự tại Đại học Nam Đan Mạch, đã tổng hợp dữ liệu từ hàng trăm loài chim và động vật có vú để tìm hiểu vì sao tuổi thọ giữa hai giới lại khác biệt như vậy. Kết quả được công bố trên tạp chí khoa học Science Advances cho thấy, ở các loài động vật có vú, con cái có xu hướng sống lâu hơn con đực.
Khoảng cách này càng rõ rệt trong môi trường tự nhiên. Giới khoa học hiện có hai hướng lý giải chính khi tuổi thọ giữa các giới không đồng nhất. Thứ nhất là giả thuyết giới tính dị giao tử, giới tính mang hai nhiễm sắc thể khác nhau (XY hoặc ZW) dễ mắc lỗi di truyền hơn, nên có tuổi thọ ngắn hơn.
Thứ hai là giả thuyết chọn lọc tình dục và đánh đổi vòng đời. Các đặc điểm giúp tăng khả năng sinh sản thường làm giảm tuổi thọ. Ở động vật có vú, con đực thường phải cạnh tranh khốc liệt để giành bạn tình, khiến chúng dễ bị thương, hao mòn sức lực và ít quan tâm đến việc sống sót lâu dài.
Đơn cử, ở loài voi châu Phi, sự khác biệt này thể hiện rất rõ. Voi cái có thể sống tới 60 năm, trong khi voi đực hiếm khi vượt quá 40 tuổi. Voi đực phải sống đơn độc, di chuyển liên tục và thường xuyên giao đấu với nhau để tranh giành con cái. Ở nai sừng tấm, con cái cũng sống lâu gấp đôi con đực, trung bình 17 đến 22 năm.
Yếu tố di truyền cũng góp phần quan trọng. Ở động vật có vú, con đực mang cặp nhiễm sắc thể XY, khiến chúng dễ bị ảnh hưởng bởi các đột biến gen lặn trên nhiễm sắc thể X. Bên cạnh đó, testosterone, một dạng hormone sinh dục nam, có thể làm suy yếu hệ miễn dịch, khiến con đực dễ mắc bệnh hơn.
Tuy nhiên, theo nhiều nhà khoa học, nguyên nhân sâu xa vẫn nằm ở chọn lọc tình dục. Ở các loài đa thê như hươu đỏ hay sư tử, con đực phát triển cơ thể lớn, sừng nhọn hoặc bờm dày. Đây là những đặc điểm giúp giành quyền giao phối nhưng đồng thời làm tăng rủi ro chấn thương, tiêu hao năng lượng và giảm tuổi thọ.
Ở con người, “lợi thế sống lâu hơn” của phụ nữ là điều phổ biến trên toàn cầu. Ở Nhật Bản, tuổi thọ trung bình của nữ giới đạt hơn 87 tuổi, trong khi nam giới là 81. Ngay cả ở các cộng đồng săn bắt hái lượm như người Hadza ở Tanzania, phụ nữ cũng có xu hướng sống lâu hơn.
Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai giới ở người không quá lớn nếu so với các loài linh trưởng khác. Ở tinh tinh hay khỉ đột, con cái có thể sống lâu hơn con đực tới 10 năm. Các nhà khoa học cho rằng, ở người, sự cạnh tranh để giành bạn tình đã giảm bớt so với các loài linh trưởng hoang dã, giúp tuổi thọ giữa hai giới thu hẹp lại.
Ở động vật có vú, con cái sống lâu hơn con đực.
Câu chuyện ngược lại
Nếu ở động vật có vú, con cái sống lâu hơn, thì ở chim, điều ngược lại thường xảy ra. Trong nghiên cứu của chuyên gia Johanna trên 648 loài chim, 68% loài có con đực sống lâu hơn trung bình 5%. Ngoài tự nhiên, khoảng cách này thậm chí vượt 25%.
Điều này một phần do khác biệt di truyền. Ở chim, con cái thường mang cặp nhiễm sắc thể ZW khiến chúng dễ gặp rủi ro di truyền hơn. Tuy nhiên, nguyên nhân chính vẫn là sinh sản. Chim mái phải tiêu hao rất nhiều năng lượng để sản xuất trứng, ấp và nuôi con nên cơ thể nhanh chóng suy yếu. Ở các loài như vịt hay chim biết hót, giai đoạn sinh sản liên tục khiến chim mái thường chết sớm hơn chim trống.
Không chỉ ở chim và thú, sự chênh lệch tuổi thọ giữa hai giới còn phổ biến trong nhiều nhóm động vật khác. Ở côn trùng, bướm đêm và phù du cái thường chết sớm sau khi đẻ trứng, trong khi con đực sống lâu hơn. Ngược lại, ở các loài xã hội như kiến hay ong, con cái lại chiếm ưu thế tuyệt đối.
Ong chúa có thể sống hàng chục năm, trong khi ong đực chỉ tồn tại vài tuần. Lý do là ong chúa được cả đàn bảo vệ, không phải đối mặt với nguy cơ săn mồi hay cạn kiệt năng lượng.
Ở lưỡng cư và bò sát, kết quả là sự pha trộn. Ếch đực chết sớm hơn do mất sức khi kêu gọi bạn tình và đánh nhau, còn ếch cái đôi khi kiệt sức vì sản xuất trứng.
Cá thì càng phức tạp hơn. Ở cá gai, con đực chăm sóc trứng một mình nên thường chết ngay sau mùa sinh sản, trong khi con cái sống để sinh thêm lứa khác. Ngược lại, ở những loài cá cái đẻ số lượng trứng khổng lồ, chúng có tuổi thọ ngắn hơn con đực.
Dù ở nhiều loài, con cái có xu hướng sống lâu hơn, điều đó không đồng nghĩa với việc chúng sống khỏe mạnh hơn. Ở người, phụ nữ thường phải đối mặt với nhiều năm sống trong tình trạng sức khỏe suy giảm do các bệnh mãn tính, loãng xương hay chứng mất trí nhớ. Tương tự, ở động vật, con cái có thể sống lâu hơn nhưng lại phải trải qua giai đoạn dài suy yếu thể chất hoặc mất khả năng sinh sản. Do đó, “lợi thế sống lâu hơn” có thể đi kèm với cái giá sức khỏe.
Định hướng nghề cho học sinh THCS 'sâu rễ, bền gốc'
GD&TĐ - Trong thời đại công nghệ số, việc chọn ngành, chọn nghề trong tương lai cho học sinh là điều mà nhiều cha mẹ, thầy cô quan tâm định hướng sớm.
2026-10-16 08:11
Biến bất đồng thành đối thoại
GD&TĐ - Khi một đứa trẻ nói “con ghét bố mẹ”, điều đó không có nghĩa mọi giới hạn trong gia đình cần được gỡ bỏ, cũng không có nghĩa cha mẹ phải chấp nhận mọi mong muốn của con.
2026-10-16 08:11
Hưng Yên tổ chức tưởng niệm 60 năm ngày hy sinh của cô giáo Bùi Thị Thanh Xuân
GD&TĐ - Lễ tưởng niệm dự kiến được tổ chức vào ngày 21/10 tại Di tích lịch sử quốc gia Khu tưởng niệm 21/10 (xã Tây Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên).
2026-10-16 08:10
Thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững
GD&TĐ - Ngày 15/10/2026, thay mặt BCH Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Kết luận số 105-KL/TW Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.
2026-10-16 03:50
Đắk Lắk phê duyệt kết quả xét thăng hạng cho hơn 3.200 viên chức giáo dục
GD&TĐ - Sở GD&ĐT Đắk Lắk vừa phê duyệt kết quả xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, đồng thời yêu cầu rà soát tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.
2026-10-16 03:50
Mở cửa tri thức từ những ngôi trường nội trú liên cấp biên giới Lai Châu
GD&TĐ - Năm học 2026–2027 đánh dấu bước chuyển mới của giáo dục vùng biên Lai Châu khi 5 trường PTNT liên cấp TH&THCS được khánh thành, đưa vào sử dụng.
2026-10-16 03:49
Giữ tiếng Mông từ giảng đường đại học
GD&TĐ - Đào tạo ngành Sư phạm tiếng Mông mở ra hướng đi mới trong đào tạo nguồn nhân lực giáo dục vùng cao, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa.
2026-10-16 03:49
Giáo dục STEM trao cơ hội cho học sinh tự kiến tạo tương lai
GD&TĐ - Để triển khai giáo dục STEM hiệu quả cần có sự đồng bộ giữa chương trình giảng dạy, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và phương pháp đánh giá.
2026-10-16 03:48
Coi trọng giá trị hợp tác quốc tế trong nhiệm vụ khoa học song phương
GD&TĐ - Bộ GD&ĐT dự thảo quy định quản lý nhiệm vụ KHCN, đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ hợp tác quốc tế theo hình thức hợp tác song phương.
2026-10-16 03:48
Đại học phải trở thành động lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo
GD&TĐ - Các chuyên gia kiến nghị giải pháp để trường đại học thực sự trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ.