Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Nạn đói năm 1945 dưới góc nhìn sử học

2025/08/02 08:43

GD&TĐ - Nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, cuốn sách “Sự thật về nạn đói năm 1945” của nhà sử học Nguyễn Quang Ân được xuất bản, nhằm tái hiện chân thực thảm họa khiến hơn 2 triệu người Việt Nam thiệt mạng.



Số liệu rợn người

Cuốn sách do NXB Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành, là một công trình sử học đặc biệt, không chỉ khơi dậy ký ức bi thương, mà còn soi tỏ nguyên nhân lịch sử và hun đúc tinh thần yêu nước, ý chí độc lập dân tộc trong thời khắc vận mệnh đất nước đứng trước bước ngoặt, thôi thúc nhân dân vùng lên giành quyền làm chủ.
Trong đó, nạn đói năm 1945 với hơn 2 triệu người chết không thể bị lãng quên như một biến cố ngẫu nhiên, mà cần nhìn nhận như là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc.
Cuốn sách “Sự thật về nạn đói năm 1945” (qua tư liệu và ký ức lịch sử) của nhà sử học Nguyễn Quang Ân là một công trình nghiên cứu, tiếp cận nạn đói không chỉ như một sự kiện nhân đạo, mà còn như một mắt xích quan trọng trong tiến trình lịch sử.
Với hơn 700 trang tư liệu, khảo cứu và điều tra thực địa, cuốn sách góp phần cung cấp thêm các chứng cứ, góc nhìn, làm rõ bản chất, nguyên nhân, hậu quả cũng như mối liên hệ giữa thảm họa nạn đói năm 1945 và Cách mạng Tháng Tám. Tác giả không chỉ sưu tầm tài liệu đương thời, mà còn trực tiếp thực hiện cuộc điều tra xã hội học lịch sử tại 19 địa điểm ở 8 tỉnh miền Bắc từ đầu những năm 1990.
Các tư liệu điều tra định lượng từ Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Tây, Hòa Bình, Vĩnh Phú và Hưng Yên (trước khi sáp nhập, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp) cho thấy mức độ khốc liệt vượt xa mọi mô tả trong văn chương và báo chí đương thời.
Nhà sử học Nguyễn Quang Ân.

“Chúng tôi được nghe người dân các làng quê kể lại tường tận những gì chứng kiến, những gì diễn ra với chính họ và gia đình. Nạn đói trên thực tế kinh hoàng hơn nhiều, bi thảm, khốc liệt hơn nhiều so với những gì tôi đã đọc, đã nghiên cứu trước đó”, nhà sử học Nguyễn Quang Ân cho hay.
Tại nhiều xã như Việt Thuận (Thái Bình trước đây), Quần Mục (Hải Phòng) hay Tây Yên (Ninh Bình), số người chết đói chiếm tới 40 - 50% dân số chỉ trong vòng vài tháng. Những câu chuyện người dân ăn rêu, gặm vỏ chuối, đập chuột nướng ăn, hay nhặt xác người để… nấu cháo, không còn là truyền miệng mà được ghi lại bằng chứng cứ khảo sát, nhân chứng, ảnh chụp và thống kê cụ thể.
Ông Ân cho biết, thời điểm năm 1993 khi đến Quần Mục khảo sát, nhiều người già vẫn nhớ như in thảm cảnh nạn đói, họ nhớ cả những nấm mồ tập thể. Khi xã chủ trương xây dựng chợ ở bãi tha ma cũ, đã xác định được 207 bộ hài cốt là người chết đói nằm chung một hố ở các tư thế sấp, nghiêng, co quắp. Có cả những hài cốt vẫn nguyên sợi dây dùng để kéo, quăng ra bãi.
Thôn Quần Mục có 355 hộ thì 251 hộ có người chết đói, trong đó 97 hộ chết hết; có 2.052 người thì chết đói 1.206 người (tỉ lệ chết 58,77%). Ở xã Tây Lương (Thái Bình trước đây) có gia đình chết hết, đến khi thối rữa bốc mùi, làng xóm mới phát hiện ra. Có gia đình 4 thế hệ gồm 31 người thì chết đói 26 người.
Có chi họ 15 gia đình với 74 nhân khẩu thì chết đến 61 người. Họ Tô ở xóm Bối Xuyên chỉ còn 1 người thoát chết là ông Tô Nuôi, do được làng xóm nuôi sống để giữ giống cho dòng họ này.
Những số liệu rợn người ở từng tỉnh, xác người chất đống ngoài nghĩa địa, trẻ em lang thang xin ăn bên xác mẹ đã trở thành tiếng nói tố cáo hùng hồn nhất về một thảm họa do con người gây ra. Không thể phủ nhận thiên tai, sâu bệnh và mất mùa là những nguyên nhân tự nhiên dẫn đến thiếu lương thực.
Nhưng căn nguyên sâu xa và trực tiếp chính là chính sách bóc lột, trưng thu thóc gạo khắc nghiệt của phát xít Nhật và thực dân Pháp.

Hiểu rõ quá khứ để trân trọng hiện tại

Nhà sử học Nguyễn Quang Ân kể: “Mấy ngày liền tôi ngồi nghe nhiếp ảnh gia Võ An Ninh kể về từng bức ảnh mà ông đã chụp, từ ngày tháng cho đến địa điểm chụp đều rất rõ ràng. Ông bảo, có người còn “ngắc ngoải” vẫn bị vứt lên xe kéo đi xếp cùng các xác chết. Họ đã cố kêu lên, nài nỉ: “Tôi chưa chết đâu, đừng mang tôi đi chôn”.
Qua các tư liệu và bằng chứng xác thực, nhà sử học Nguyễn Quang Ân cho rằng, hàng trăm nghìn hecta lúa ở Đồng bằng Bắc Bộ bị nhổ để trồng đay phục vụ chiến tranh. Tuyến vận tải gạo từ Nam ra Bắc bị cắt đứt.
Thóc gạo bị cấm bán, cấm lưu thông, bị tích trữ theo lệnh nhà nước. Thuế thân vẫn thu, thậm chí còn tăng trong thời điểm nhân dân chết đói. Trong khi ấy, bộ máy cai trị lại bất lực, thờ ơ, thậm chí tham nhũng trong cả việc phát gạo cứu đói.
Bức ảnh chụp về nạn đói năm 1945 của nhiếp ảnh gia Võ An Ninh.

Từ phân tích các văn bản gốc, tác giả khẳng định đây là một “nhân họa”, một thảm kịch do chính sách phi nhân đạo của chính quyền chiếm đóng gây ra. Đặt nạn đói vào dòng chảy lịch sử, cho thấy chính thảm họa này đã trở thành giọt nước tràn ly, khiến lòng căm phẫn và tuyệt vọng trong dân chúng bùng phát thành sức mạnh cách mạng.
Hàng triệu người Việt Nam không chỉ chết đói, mà còn chết trong uất nghẹn nên đã thổi bùng khát vọng độc lập, thôi thúc toàn dân vùng lên trong Cách mạng Tháng Tám.
Dưới góc nhìn sử học, nạn đói 1945 không còn là một sự kiện tách rời hay một bi kịch nhân đạo đơn lẻ, mà là một phần không thể thiếu của tiến trình lịch sử Việt Nam hiện đại. Trong “Tuyên ngôn độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến thảm họa này như một bằng chứng không thể chối cãi về tội ác của chế độ thực dân - phát xít và tính chính đáng của nền độc lập.
Ngày 2/9/1945 vì thế không chỉ là ngày khai sinh một quốc gia, mà còn là ngày khép lại một chương bi thương và mở ra hi vọng cho hàng triệu người đang giành lại quyền sống, quyền làm người và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Theo nhà sử học Nguyễn Quang Ân, 80 năm đã trôi qua kể từ nạn đói năm 1945, nhưng việc suy ngẫm về thảm họa này vẫn là điều cần thiết. Bởi trong bối cảnh thế giới đầy biến động, việc hiểu rõ nỗi đau của quá khứ chính là cách tốt nhất để trân trọng hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Lịch sử không chỉ là những gì đã qua, mà còn là thứ tiếp tục định hình cách chúng ta sống, nghĩ và lựa chọn ngày hôm nay.

Cuốn sách 'Sự thật về nạn đói năm 1945' của nhà sử học Nguyễn Quang Ân do NXB Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành.


Số liệu rợn người

Cuốn sách do NXB Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành, là một công trình sử học đặc biệt, không chỉ khơi dậy ký ức bi thương, mà còn soi tỏ nguyên nhân lịch sử và hun đúc tinh thần yêu nước, ý chí độc lập dân tộc trong thời khắc vận mệnh đất nước đứng trước bước ngoặt, thôi thúc nhân dân vùng lên giành quyền làm chủ.
Trong đó, nạn đói năm 1945 với hơn 2 triệu người chết không thể bị lãng quên như một biến cố ngẫu nhiên, mà cần nhìn nhận như là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc.
Cuốn sách “Sự thật về nạn đói năm 1945” (qua tư liệu và ký ức lịch sử) của nhà sử học Nguyễn Quang Ân là một công trình nghiên cứu, tiếp cận nạn đói không chỉ như một sự kiện nhân đạo, mà còn như một mắt xích quan trọng trong tiến trình lịch sử.
Với hơn 700 trang tư liệu, khảo cứu và điều tra thực địa, cuốn sách góp phần cung cấp thêm các chứng cứ, góc nhìn, làm rõ bản chất, nguyên nhân, hậu quả cũng như mối liên hệ giữa thảm họa nạn đói năm 1945 và Cách mạng Tháng Tám. Tác giả không chỉ sưu tầm tài liệu đương thời, mà còn trực tiếp thực hiện cuộc điều tra xã hội học lịch sử tại 19 địa điểm ở 8 tỉnh miền Bắc từ đầu những năm 1990.
Các tư liệu điều tra định lượng từ Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Tây, Hòa Bình, Vĩnh Phú và Hưng Yên (trước khi sáp nhập, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp) cho thấy mức độ khốc liệt vượt xa mọi mô tả trong văn chương và báo chí đương thời.
Nhà sử học Nguyễn Quang Ân.

“Chúng tôi được nghe người dân các làng quê kể lại tường tận những gì chứng kiến, những gì diễn ra với chính họ và gia đình. Nạn đói trên thực tế kinh hoàng hơn nhiều, bi thảm, khốc liệt hơn nhiều so với những gì tôi đã đọc, đã nghiên cứu trước đó”, nhà sử học Nguyễn Quang Ân cho hay.
Tại nhiều xã như Việt Thuận (Thái Bình trước đây), Quần Mục (Hải Phòng) hay Tây Yên (Ninh Bình), số người chết đói chiếm tới 40 - 50% dân số chỉ trong vòng vài tháng. Những câu chuyện người dân ăn rêu, gặm vỏ chuối, đập chuột nướng ăn, hay nhặt xác người để… nấu cháo, không còn là truyền miệng mà được ghi lại bằng chứng cứ khảo sát, nhân chứng, ảnh chụp và thống kê cụ thể.
Ông Ân cho biết, thời điểm năm 1993 khi đến Quần Mục khảo sát, nhiều người già vẫn nhớ như in thảm cảnh nạn đói, họ nhớ cả những nấm mồ tập thể. Khi xã chủ trương xây dựng chợ ở bãi tha ma cũ, đã xác định được 207 bộ hài cốt là người chết đói nằm chung một hố ở các tư thế sấp, nghiêng, co quắp. Có cả những hài cốt vẫn nguyên sợi dây dùng để kéo, quăng ra bãi.
Thôn Quần Mục có 355 hộ thì 251 hộ có người chết đói, trong đó 97 hộ chết hết; có 2.052 người thì chết đói 1.206 người (tỉ lệ chết 58,77%). Ở xã Tây Lương (Thái Bình trước đây) có gia đình chết hết, đến khi thối rữa bốc mùi, làng xóm mới phát hiện ra. Có gia đình 4 thế hệ gồm 31 người thì chết đói 26 người.
Có chi họ 15 gia đình với 74 nhân khẩu thì chết đến 61 người. Họ Tô ở xóm Bối Xuyên chỉ còn 1 người thoát chết là ông Tô Nuôi, do được làng xóm nuôi sống để giữ giống cho dòng họ này.
Những số liệu rợn người ở từng tỉnh, xác người chất đống ngoài nghĩa địa, trẻ em lang thang xin ăn bên xác mẹ đã trở thành tiếng nói tố cáo hùng hồn nhất về một thảm họa do con người gây ra. Không thể phủ nhận thiên tai, sâu bệnh và mất mùa là những nguyên nhân tự nhiên dẫn đến thiếu lương thực.
Nhưng căn nguyên sâu xa và trực tiếp chính là chính sách bóc lột, trưng thu thóc gạo khắc nghiệt của phát xít Nhật và thực dân Pháp.

Hiểu rõ quá khứ để trân trọng hiện tại

Nhà sử học Nguyễn Quang Ân kể: “Mấy ngày liền tôi ngồi nghe nhiếp ảnh gia Võ An Ninh kể về từng bức ảnh mà ông đã chụp, từ ngày tháng cho đến địa điểm chụp đều rất rõ ràng. Ông bảo, có người còn “ngắc ngoải” vẫn bị vứt lên xe kéo đi xếp cùng các xác chết. Họ đã cố kêu lên, nài nỉ: “Tôi chưa chết đâu, đừng mang tôi đi chôn”.
Qua các tư liệu và bằng chứng xác thực, nhà sử học Nguyễn Quang Ân cho rằng, hàng trăm nghìn hecta lúa ở Đồng bằng Bắc Bộ bị nhổ để trồng đay phục vụ chiến tranh. Tuyến vận tải gạo từ Nam ra Bắc bị cắt đứt.
Thóc gạo bị cấm bán, cấm lưu thông, bị tích trữ theo lệnh nhà nước. Thuế thân vẫn thu, thậm chí còn tăng trong thời điểm nhân dân chết đói. Trong khi ấy, bộ máy cai trị lại bất lực, thờ ơ, thậm chí tham nhũng trong cả việc phát gạo cứu đói.
Bức ảnh chụp về nạn đói năm 1945 của nhiếp ảnh gia Võ An Ninh.

Từ phân tích các văn bản gốc, tác giả khẳng định đây là một “nhân họa”, một thảm kịch do chính sách phi nhân đạo của chính quyền chiếm đóng gây ra. Đặt nạn đói vào dòng chảy lịch sử, cho thấy chính thảm họa này đã trở thành giọt nước tràn ly, khiến lòng căm phẫn và tuyệt vọng trong dân chúng bùng phát thành sức mạnh cách mạng.
Hàng triệu người Việt Nam không chỉ chết đói, mà còn chết trong uất nghẹn nên đã thổi bùng khát vọng độc lập, thôi thúc toàn dân vùng lên trong Cách mạng Tháng Tám.
Dưới góc nhìn sử học, nạn đói 1945 không còn là một sự kiện tách rời hay một bi kịch nhân đạo đơn lẻ, mà là một phần không thể thiếu của tiến trình lịch sử Việt Nam hiện đại. Trong “Tuyên ngôn độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến thảm họa này như một bằng chứng không thể chối cãi về tội ác của chế độ thực dân - phát xít và tính chính đáng của nền độc lập.
Ngày 2/9/1945 vì thế không chỉ là ngày khai sinh một quốc gia, mà còn là ngày khép lại một chương bi thương và mở ra hi vọng cho hàng triệu người đang giành lại quyền sống, quyền làm người và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Theo nhà sử học Nguyễn Quang Ân, 80 năm đã trôi qua kể từ nạn đói năm 1945, nhưng việc suy ngẫm về thảm họa này vẫn là điều cần thiết. Bởi trong bối cảnh thế giới đầy biến động, việc hiểu rõ nỗi đau của quá khứ chính là cách tốt nhất để trân trọng hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Lịch sử không chỉ là những gì đã qua, mà còn là thứ tiếp tục định hình cách chúng ta sống, nghĩ và lựa chọn ngày hôm nay.

Chia sẻ
nạn đói 1945Cách mạng Tháng TámQuốc khánh 2/9lịch sử Việt Nam
Theo Trần Hòa
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2025/08/02 06:05 (GMT+7)

Xem thêm Văn hóa

Hưng Yên tổ chức tưởng niệm 60 năm ngày hy sinh của cô giáo Bùi Thị Thanh Xuân
Văn hóa

Hưng Yên tổ chức tưởng niệm 60 năm ngày hy sinh của cô giáo Bùi Thị Thanh Xuân

Đề xuất xây dựng Luật Bản quyền tác giả riêng trước sức ép từ AI
Văn hóa

Đề xuất xây dựng Luật Bản quyền tác giả riêng trước sức ép từ AI

Phát động cuộc thi sáng tác về thương binh, liệt sĩ và người có công
Văn hóa

Phát động cuộc thi sáng tác về thương binh, liệt sĩ và người có công

Vinh danh 34 tác phẩm báo chí về phát triển văn hóa Thủ đô
Văn hóa

Vinh danh 34 tác phẩm báo chí về phát triển văn hóa Thủ đô

Đưa Nghị quyết 80-NQ/TW vào cuộc sống: Để di sản sống cùng thế hệ trẻ
Văn hóa

Đưa Nghị quyết 80-NQ/TW vào cuộc sống: Để di sản sống cùng thế hệ trẻ

Di tích quốc gia Bến phà II Long Đại đón nhận Bằng tôn vinh kỷ lục Việt Nam
Văn hóa

Di tích quốc gia Bến phà II Long Đại đón nhận Bằng tôn vinh kỷ lục Việt Nam

Mới nhất

2026-10-16 08:12

Định hướng nghề cho học sinh THCS 'sâu rễ, bền gốc'

GD&TĐ - Trong thời đại công nghệ số, việc chọn ngành, chọn nghề trong tương lai cho học sinh là điều mà nhiều cha mẹ, thầy cô quan tâm định hướng sớm.

Định hướng nghề cho học sinh THCS 'sâu rễ, bền gốc'
2026-10-16 08:11

Biến bất đồng thành đối thoại

GD&TĐ - Khi một đứa trẻ nói “con ghét bố mẹ”, điều đó không có nghĩa mọi giới hạn trong gia đình cần được gỡ bỏ, cũng không có nghĩa cha mẹ phải chấp nhận mọi mong muốn của con.

Biến bất đồng thành đối thoại
2026-10-16 08:10

Thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững

GD&TĐ - Ngày 15/10/2026, thay mặt BCH Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Kết luận số 105-KL/TW Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững
2026-10-16 03:50

Đắk Lắk phê duyệt kết quả xét thăng hạng cho hơn 3.200 viên chức giáo dục

GD&TĐ - Sở GD&ĐT Đắk Lắk vừa phê duyệt kết quả xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, đồng thời yêu cầu rà soát tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.

Đắk Lắk phê duyệt kết quả xét thăng hạng cho hơn 3.200 viên chức giáo dục
2026-10-16 03:50

Mở cửa tri thức từ những ngôi trường nội trú liên cấp biên giới Lai Châu

GD&TĐ - Năm học 2026–2027 đánh dấu bước chuyển mới của giáo dục vùng biên Lai Châu khi 5 trường PTNT liên cấp TH&THCS được khánh thành, đưa vào sử dụng.

Mở cửa tri thức từ những ngôi trường nội trú liên cấp biên giới Lai Châu
2026-10-16 03:49

Giữ tiếng Mông từ giảng đường đại học

GD&TĐ - Đào tạo ngành Sư phạm tiếng Mông mở ra hướng đi mới trong đào tạo nguồn nhân lực giáo dục vùng cao, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa.

Giữ tiếng Mông từ giảng đường đại học
2026-10-16 03:49

Giáo dục STEM trao cơ hội cho học sinh tự kiến tạo tương lai

GD&TĐ - Để triển khai giáo dục STEM hiệu quả cần có sự đồng bộ giữa chương trình giảng dạy, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và phương pháp đánh giá.

Giáo dục STEM trao cơ hội cho học sinh tự kiến tạo tương lai
2026-10-16 03:48

Coi trọng giá trị hợp tác quốc tế trong nhiệm vụ khoa học song phương

GD&TĐ - Bộ GD&ĐT dự thảo quy định quản lý nhiệm vụ KHCN, đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ hợp tác quốc tế theo hình thức hợp tác song phương.

Coi trọng giá trị hợp tác quốc tế trong nhiệm vụ khoa học song phương
2026-10-16 03:48

Đại học phải trở thành động lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo

GD&TĐ - Các chuyên gia kiến nghị giải pháp để trường đại học thực sự trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ.

Đại học phải trở thành động lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo
2026-10-16 03:48

Ra mắt mô hình “Nhà an toàn cho phụ nữ và trẻ em” ở Hưng Yên

GD&TĐ - Mô hình nhằm kịp thời phát hiện, hỗ trợ các trường hợp có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại hoặc gặp hoàn cảnh khó khăn.

Ra mắt mô hình “Nhà an toàn cho phụ nữ và trẻ em” ở Hưng Yên