GD&TĐ - Từ màn tái hiện hỷ lễ thời xưa, 'Bách hoa hỷ sự' đang trở thành một trong những tiêu điểm được bàn luận sôi nổi trên các diễn đàn cổ phục.
Diễu hành Việt phục “Bách hoa hỷ sự” trong khuôn khổ Ngày hội Việt Nam hạnh phúc 2025, tái hiện lễ cưới triều Nguyễn cho thấy sức sống mạnh mẽ của cổ phục Việt khi bước ra đời sống đương đại.
Thắp sáng vẻ đẹp cổ phục cưới hỏi
Từ màn tái hiện hỷ lễ thời xưa, “Bách hoa hỷ sự” đang trở thành một trong những tiêu điểm được bàn luận sôi nổi trên các diễn đàn cổ phục. Không chỉ là sự kiện văn hóa gây tiếng vang khi hàng trăm người diện cổ phục diễu hành trên phố, sự kiện còn tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa.
Từ nhiều năm nay, cổ phục Việt đã trở lại một cách sống động và đầy cảm hứng trong đời sống đương đại. Không chỉ xuất hiện trên sân khấu, trong những sự kiện văn hóa hay ở các show trình diễn nghệ thuật, cổ phục còn bước vào đời sống thường nhật, trở thành lựa chọn của nhiều bạn trẻ trong những dịp chụp ảnh, lễ hội.
Các dự án phục dựng, đặc biệt là những không gian tái hiện đám cưới cổ truyền như “Bách hoa hỷ sự”, mang ý nghĩa đặc biệt giúp người xem không chỉ được nhìn ngắm những bộ y phục xưa cũ mà được trở về quá khứ cha ông, từ trang phục đời thường mang hơi thở làng quê cho đến lễ phục cung đình rực rỡ, tinh xảo triều Nguyễn.
Theo tư liệu của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, trang phục cưới hỏi truyền thống của người Việt vô cùng phong phú. Tại miền Bắc xưa, cô dâu thường mặc áo tứ thân hoặc yếm đào, khoác thêm áo the thâm, váy lĩnh sẫm màu và thắt lưng lụa đỏ, đội nón quai thao hay khăn vấn. Trong khi đó, chú rể vận áo dài the đen, vấn khăn xếp theo lối cổ, mang một vẻ trịnh trọng nhưng gần gũi.
Đặc biệt vùng kinh kỳ Huế, trang phục cưới chịu ảnh hưởng rõ nét từ cung đình. Những bộ áo ngũ thân tay chẽn, áo nhật bình hay áo tấc dành cho cô dâu không chỉ có màu đỏ, vàng hay chàm mà còn được thêu ren hoa văn cát tường, phượng múa, hoa điệp, hồi văn. Phụ kiện cưới của phụ nữ Huế xưa cũng được chế tác cầu kỳ với trâm vàng chạm khắc hoa lá, khuyên tai ngọc, kiềng bản lớn, dây chuyền vàng. Chú rể vận áo dài ngũ thân sẫm màu, khăn đóng đen, đai lưng to… tạo vẻ điềm đạm và sang trọng.
Sự phong phú của cổ phục cưới các vùng miền chính là nền tảng để những dự án như “Bách hoa hỷ sự” có thể tái hiện đầy đủ chất liệu và sức sống. Ở buổi trình diễn xuất phát từ Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục đi qua phố Hàng Dầu, khu Tràng Tiền, Hàng Khay, vòng quanh hồ Gươm, người xem như bước vào một “bảo tàng sống” của sắc phục Việt. Mỗi y phục đều là một lát cắt lịch sử, nơi không chỉ có áo dài, áo tấc hay áo ngũ thân, mà còn có đủ lễ phục đại triều, thường triều, các loại khăn vấn, mấn đội, thoa, kiềng, phượng...
Theo TS Phan Thanh Hải - người dành nhiều năm nghiên cứu về cổ phục, khởi đầu của mọi “đợt sóng văn hóa” bao giờ cũng xuất phát từ sự quan tâm và sức sáng tạo của thế hệ trẻ. Họ không chỉ mặc lại cổ phục để chụp ảnh hoặc biểu diễn, mà còn tiếp cận với nghiên cứu từ chất liệu vải, kỹ thuật may, màu nhuộm, hoa văn đến nghi thức cưới hỏi gắn với từng loại trang phục. Điều đó cho thấy việc phục dựng cổ phục không chỉ dừng ở việc khôi phục hình dáng trang phục mà còn là khôi phục cả hệ thống giá trị, lễ nghi của người Việt.
Trang phục 'già hương' trong đám cưới xưa của người Việt.
Để cổ phục cưới trở thành một phần bản sắc quốc gia
TS Phan Thanh Hải cũng cho rằng, lễ phục cưới là loại trang phục gắn với ý nghĩa thiêng liêng và bền vững nhất trong đời sống xã hội. Một lễ cưới truyền thống, theo ông, vừa là sự kiện của hai gia đình vừa là một “nghi thức chuyển đổi” mang tính văn hóa. Khi một cặp đôi chọn mặc cổ phục trong ngày cưới, họ không chỉ mặc lại trang phục của tổ tiên mà còn chủ động kết nối với lịch sử, mang bản sắc dân tộc vào khoảnh khắc trọng đại nhất cuộc đời.
Sự trở lại của cổ phục lễ cưới càng đậm đà bản sắc hơn khi đặt cạnh câu chuyện của Nhật Bản. Người Nhật luôn dành vị trí trang trọng cho kimono trong lễ cưới, những bộ shiromuku trắng tinh khiết dành cho cô dâu, hay uchikake đỏ, vàng thêu họa tiết hạc và hoa mẫu đơn được xem là biểu tượng của sự may mắn. Chú rể mặc montsuki haori hakama với hoạ tiết gia huy.
Nhật Bản đã biến kimono thành một bản sắc không thể trộn lẫn bằng cách chuẩn hóa lễ phục, đưa vào hệ thống giáo dục, kết hợp với ngành du lịch và truyền thông, và đặc biệt là giữ sự linh hoạt trong ứng dụng cho phép kết hợp kimono với váy cưới phương Tây. Nhờ vậy, kimono không bị “đóng khung” mà sống cùng thời đại.
Đặt cạnh mô hình ấy, Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện tham vọng đưa cổ phục cưới thành một phần bản sắc quốc gia. Nhưng trước tiên cần tiếp tục phục dựng tư liệu, chuẩn hóa cấu trúc từng trang phục theo thời kỳ và vùng miền, mở rộng nghiên cứu kỹ thuật may truyền thống, hoa văn cung đình, màu nhuộm tự nhiên. Đồng thời, đưa cổ phục vào đời sống qua du lịch, đưa lễ cưới truyền thống vào các tour trải nghiệm ở Huế, Hội An, Hà Nội; xây dựng các không gian chụp ảnh, nghi lễ mẫu; tổ chức tuần lễ cổ phục Việt.
Trang phục của khối sính lễ với trầu cau, xôi, gà, rượu, bánh…
Điều quan trọng hơn là cổ phục cần đi cùng lễ nghi, bởi trang phục chỉ thực sự “sống” khi gắn với văn hóa ứng xử. Một lễ cưới truyền thống được tái hiện đúng nghĩa với lễ vấn danh, lễ gia tiên, lễ rước dâu bằng cỗ kiệu, tráp lễ truyền thống… khi đó cổ phục mới thực sự trở thành linh hồn của nghi lễ, chứ không chỉ là hình thức bên ngoài.
Các sự kiện tái hiện như “Bách hoa hỷ sự” chính là minh chứng cho khả năng thúc đẩy và quảng bá bản sắc văn hóa. Khi những bộ áo ngũ thân, áo nhật bình, lễ phục ngọc thể triều Nguyễn, hay những bộ tứ thân, yếm đào, váy lĩnh… cùng xuất hiện trong một không gian thống nhất, người xem không chỉ được ngắm nhìn, mà còn hiểu về hành trình thẩm mỹ của người Việt.
Sự hồi sinh của cổ phục cưới hỏi không phải là trào lưu nhất thời, mà là kết quả của sự tìm về cội nguồn trong bối cảnh hội nhập. Trong đời sống hiện đại, khi áo cưới phương Tây trở nên phổ biến, việc người trẻ lựa chọn cổ phục Việt chính là hành động khẳng định bản sắc. Khi càng nhiều cặp đôi bước vào ngày trọng đại trong những bộ lễ phục truyền thống, văn hóa Việt càng được lan tỏa và trở thành bản sắc nhận diện.
Tái hiện trang phục của cô dâu - chú rể thời xưa.
Diễu hành Việt phục “Bách hoa hỷ sự” trong khuôn khổ Ngày hội Việt Nam hạnh phúc 2025, tái hiện lễ cưới triều Nguyễn cho thấy sức sống mạnh mẽ của cổ phục Việt khi bước ra đời sống đương đại.
Thắp sáng vẻ đẹp cổ phục cưới hỏi
Từ màn tái hiện hỷ lễ thời xưa, “Bách hoa hỷ sự” đang trở thành một trong những tiêu điểm được bàn luận sôi nổi trên các diễn đàn cổ phục. Không chỉ là sự kiện văn hóa gây tiếng vang khi hàng trăm người diện cổ phục diễu hành trên phố, sự kiện còn tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa.
Từ nhiều năm nay, cổ phục Việt đã trở lại một cách sống động và đầy cảm hứng trong đời sống đương đại. Không chỉ xuất hiện trên sân khấu, trong những sự kiện văn hóa hay ở các show trình diễn nghệ thuật, cổ phục còn bước vào đời sống thường nhật, trở thành lựa chọn của nhiều bạn trẻ trong những dịp chụp ảnh, lễ hội.
Các dự án phục dựng, đặc biệt là những không gian tái hiện đám cưới cổ truyền như “Bách hoa hỷ sự”, mang ý nghĩa đặc biệt giúp người xem không chỉ được nhìn ngắm những bộ y phục xưa cũ mà được trở về quá khứ cha ông, từ trang phục đời thường mang hơi thở làng quê cho đến lễ phục cung đình rực rỡ, tinh xảo triều Nguyễn.
Theo tư liệu của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, trang phục cưới hỏi truyền thống của người Việt vô cùng phong phú. Tại miền Bắc xưa, cô dâu thường mặc áo tứ thân hoặc yếm đào, khoác thêm áo the thâm, váy lĩnh sẫm màu và thắt lưng lụa đỏ, đội nón quai thao hay khăn vấn. Trong khi đó, chú rể vận áo dài the đen, vấn khăn xếp theo lối cổ, mang một vẻ trịnh trọng nhưng gần gũi.
Đặc biệt vùng kinh kỳ Huế, trang phục cưới chịu ảnh hưởng rõ nét từ cung đình. Những bộ áo ngũ thân tay chẽn, áo nhật bình hay áo tấc dành cho cô dâu không chỉ có màu đỏ, vàng hay chàm mà còn được thêu ren hoa văn cát tường, phượng múa, hoa điệp, hồi văn. Phụ kiện cưới của phụ nữ Huế xưa cũng được chế tác cầu kỳ với trâm vàng chạm khắc hoa lá, khuyên tai ngọc, kiềng bản lớn, dây chuyền vàng. Chú rể vận áo dài ngũ thân sẫm màu, khăn đóng đen, đai lưng to… tạo vẻ điềm đạm và sang trọng.
Sự phong phú của cổ phục cưới các vùng miền chính là nền tảng để những dự án như “Bách hoa hỷ sự” có thể tái hiện đầy đủ chất liệu và sức sống. Ở buổi trình diễn xuất phát từ Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục đi qua phố Hàng Dầu, khu Tràng Tiền, Hàng Khay, vòng quanh hồ Gươm, người xem như bước vào một “bảo tàng sống” của sắc phục Việt. Mỗi y phục đều là một lát cắt lịch sử, nơi không chỉ có áo dài, áo tấc hay áo ngũ thân, mà còn có đủ lễ phục đại triều, thường triều, các loại khăn vấn, mấn đội, thoa, kiềng, phượng...
Theo TS Phan Thanh Hải - người dành nhiều năm nghiên cứu về cổ phục, khởi đầu của mọi “đợt sóng văn hóa” bao giờ cũng xuất phát từ sự quan tâm và sức sáng tạo của thế hệ trẻ. Họ không chỉ mặc lại cổ phục để chụp ảnh hoặc biểu diễn, mà còn tiếp cận với nghiên cứu từ chất liệu vải, kỹ thuật may, màu nhuộm, hoa văn đến nghi thức cưới hỏi gắn với từng loại trang phục. Điều đó cho thấy việc phục dựng cổ phục không chỉ dừng ở việc khôi phục hình dáng trang phục mà còn là khôi phục cả hệ thống giá trị, lễ nghi của người Việt.
Trang phục 'già hương' trong đám cưới xưa của người Việt.
Để cổ phục cưới trở thành một phần bản sắc quốc gia
TS Phan Thanh Hải cũng cho rằng, lễ phục cưới là loại trang phục gắn với ý nghĩa thiêng liêng và bền vững nhất trong đời sống xã hội. Một lễ cưới truyền thống, theo ông, vừa là sự kiện của hai gia đình vừa là một “nghi thức chuyển đổi” mang tính văn hóa. Khi một cặp đôi chọn mặc cổ phục trong ngày cưới, họ không chỉ mặc lại trang phục của tổ tiên mà còn chủ động kết nối với lịch sử, mang bản sắc dân tộc vào khoảnh khắc trọng đại nhất cuộc đời.
Sự trở lại của cổ phục lễ cưới càng đậm đà bản sắc hơn khi đặt cạnh câu chuyện của Nhật Bản. Người Nhật luôn dành vị trí trang trọng cho kimono trong lễ cưới, những bộ shiromuku trắng tinh khiết dành cho cô dâu, hay uchikake đỏ, vàng thêu họa tiết hạc và hoa mẫu đơn được xem là biểu tượng của sự may mắn. Chú rể mặc montsuki haori hakama với hoạ tiết gia huy.
Nhật Bản đã biến kimono thành một bản sắc không thể trộn lẫn bằng cách chuẩn hóa lễ phục, đưa vào hệ thống giáo dục, kết hợp với ngành du lịch và truyền thông, và đặc biệt là giữ sự linh hoạt trong ứng dụng cho phép kết hợp kimono với váy cưới phương Tây. Nhờ vậy, kimono không bị “đóng khung” mà sống cùng thời đại.
Đặt cạnh mô hình ấy, Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện tham vọng đưa cổ phục cưới thành một phần bản sắc quốc gia. Nhưng trước tiên cần tiếp tục phục dựng tư liệu, chuẩn hóa cấu trúc từng trang phục theo thời kỳ và vùng miền, mở rộng nghiên cứu kỹ thuật may truyền thống, hoa văn cung đình, màu nhuộm tự nhiên. Đồng thời, đưa cổ phục vào đời sống qua du lịch, đưa lễ cưới truyền thống vào các tour trải nghiệm ở Huế, Hội An, Hà Nội; xây dựng các không gian chụp ảnh, nghi lễ mẫu; tổ chức tuần lễ cổ phục Việt.
Trang phục của khối sính lễ với trầu cau, xôi, gà, rượu, bánh…
Điều quan trọng hơn là cổ phục cần đi cùng lễ nghi, bởi trang phục chỉ thực sự “sống” khi gắn với văn hóa ứng xử. Một lễ cưới truyền thống được tái hiện đúng nghĩa với lễ vấn danh, lễ gia tiên, lễ rước dâu bằng cỗ kiệu, tráp lễ truyền thống… khi đó cổ phục mới thực sự trở thành linh hồn của nghi lễ, chứ không chỉ là hình thức bên ngoài.
Các sự kiện tái hiện như “Bách hoa hỷ sự” chính là minh chứng cho khả năng thúc đẩy và quảng bá bản sắc văn hóa. Khi những bộ áo ngũ thân, áo nhật bình, lễ phục ngọc thể triều Nguyễn, hay những bộ tứ thân, yếm đào, váy lĩnh… cùng xuất hiện trong một không gian thống nhất, người xem không chỉ được ngắm nhìn, mà còn hiểu về hành trình thẩm mỹ của người Việt.
Sự hồi sinh của cổ phục cưới hỏi không phải là trào lưu nhất thời, mà là kết quả của sự tìm về cội nguồn trong bối cảnh hội nhập. Trong đời sống hiện đại, khi áo cưới phương Tây trở nên phổ biến, việc người trẻ lựa chọn cổ phục Việt chính là hành động khẳng định bản sắc. Khi càng nhiều cặp đôi bước vào ngày trọng đại trong những bộ lễ phục truyền thống, văn hóa Việt càng được lan tỏa và trở thành bản sắc nhận diện.
Định hướng nghề cho học sinh THCS 'sâu rễ, bền gốc'
GD&TĐ - Trong thời đại công nghệ số, việc chọn ngành, chọn nghề trong tương lai cho học sinh là điều mà nhiều cha mẹ, thầy cô quan tâm định hướng sớm.
2026-10-16 08:11
Biến bất đồng thành đối thoại
GD&TĐ - Khi một đứa trẻ nói “con ghét bố mẹ”, điều đó không có nghĩa mọi giới hạn trong gia đình cần được gỡ bỏ, cũng không có nghĩa cha mẹ phải chấp nhận mọi mong muốn của con.
2026-10-16 08:10
Thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững
GD&TĐ - Ngày 15/10/2026, thay mặt BCH Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Kết luận số 105-KL/TW Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.
2026-10-16 03:50
Đắk Lắk phê duyệt kết quả xét thăng hạng cho hơn 3.200 viên chức giáo dục
GD&TĐ - Sở GD&ĐT Đắk Lắk vừa phê duyệt kết quả xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, đồng thời yêu cầu rà soát tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.
2026-10-16 03:50
Mở cửa tri thức từ những ngôi trường nội trú liên cấp biên giới Lai Châu
GD&TĐ - Năm học 2026–2027 đánh dấu bước chuyển mới của giáo dục vùng biên Lai Châu khi 5 trường PTNT liên cấp TH&THCS được khánh thành, đưa vào sử dụng.
2026-10-16 03:49
Giữ tiếng Mông từ giảng đường đại học
GD&TĐ - Đào tạo ngành Sư phạm tiếng Mông mở ra hướng đi mới trong đào tạo nguồn nhân lực giáo dục vùng cao, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa.
2026-10-16 03:49
Giáo dục STEM trao cơ hội cho học sinh tự kiến tạo tương lai
GD&TĐ - Để triển khai giáo dục STEM hiệu quả cần có sự đồng bộ giữa chương trình giảng dạy, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và phương pháp đánh giá.
2026-10-16 03:48
Coi trọng giá trị hợp tác quốc tế trong nhiệm vụ khoa học song phương
GD&TĐ - Bộ GD&ĐT dự thảo quy định quản lý nhiệm vụ KHCN, đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ hợp tác quốc tế theo hình thức hợp tác song phương.
2026-10-16 03:48
Đại học phải trở thành động lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo
GD&TĐ - Các chuyên gia kiến nghị giải pháp để trường đại học thực sự trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ.
2026-10-16 03:48
Ra mắt mô hình “Nhà an toàn cho phụ nữ và trẻ em” ở Hưng Yên
GD&TĐ - Mô hình nhằm kịp thời phát hiện, hỗ trợ các trường hợp có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại hoặc gặp hoàn cảnh khó khăn.