Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Trung học nghề: Tránh 'luật mở' nhưng thực thi lúng túng

2026/01/13 17:03

GD&TĐ - GS.TSKH.BS Dương Quý Sỹ - Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, Chủ tịch Hội đồng Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng cho rằng: Việc luật hóa mô hình trung học nghề mở ra cơ hội phân luồng và học tập suốt đời cho người học.


Song để tránh “luật mở” nhưng triển khai lúng túng, cần một khung thực thi đồng bộ, rõ ràng, khả thi.

Bài học từ thực tiễn

- Từ thực tiễn Việt Nam, theo ông có thể rút ra bài học gì để triển khai mô hình trung học nghề một cách bền vững?
- Việt Nam đã có nhiều mô hình giáo dục được thiết kế tương đương như cấp THPT kể từ sau khi thống nhất đất nước cho đến nay, nhưng hầu như đều không đạt được mục tiêu đích thực của yêu cầu thực tiễn và tính phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ.
Đầu tiên là chương trình bổ túc văn hóa THPT bắt đầu từ những năm 1980 và được thể chế hóa trong Luật Giáo dục các năm 1998, 2005, 2019 dưới hình thức giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hình thức này nhằm mở rộng cơ hội học tập cho những người không theo học phổ thông chính quy, với giá trị pháp lý tương đương bằng THPT.
Tuy nhiên, do chất lượng chưa đồng đều, việc tổ chức tại các trung tâm giáo dục thường xuyên thiếu gắn kết với kỹ năng nghề, cùng với việc bằng cấp thường bị đánh giá thấp, hình thức này gặp nhiều khó khăn trong việc học nâng cao và đến nay vẫn được xem là lựa chọn thứ yếu của người học.
Hình thức thứ hai là mô hình trung học chuyên nghiệp kết hợp với học bổ túc văn hóa THPT, được triển khai nhằm giúp học sinh vừa học nghề vừa hoàn thiện trình độ văn hóa THPT. Tuy nhiên, việc học văn hóa và học nghề được tổ chức theo hai hệ tách rời, thiếu một chuẩn tích hợp thống nhất và chưa có vị thế pháp lý rõ ràng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Sau khi Luật Dạy nghề (Luật 76/2006/QH11) được ban hành, hệ thống giáo dục Việt Nam mở rộng mô hình học trung cấp nghề hoặc trung cấp chuyên nghiệp sau THCS, kết hợp với học một phần văn hóa phổ thông, nhằm giúp phân luồng sớm và đạt trình độ tương đương THPT.
Tuy nhiên, do không có chuẩn văn hóa đầy đủ, văn bằng của mô hình này không thể thay thế bằng THPT. Mô hình này vẫn được duy trì từ năm 2014 đến nay, bởi Luật Giáo dục nghề nghiệp tiếp tục cho phép đào tạo sau THCS và dạy văn hóa song song.
Thế nhưng, theo Thông tư 15/2022/TT-BGDĐT, sau khi học sinh hoàn thành chương trình và thi đạt yêu cầu, họ chỉ được cấp giấy chứng nhận hoàn thành khối lượng kiến thức văn hóa THPT cần thiết để theo học trình độ cao hơn trong giáo dục nghề nghiệp.
Do vậy, qua các giai đoạn phát triển của đất nước, mặc dù mục tiêu xuyên suốt là phổ cập giáo dục phổ thông và định hướng nghề nghiệp để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, hệ thống giáo dục Việt Nam đã triển khai nhiều mô hình tương đương THPT nhưng hiệu quả chưa cao.
Nguyên nhân là các mô hình này chưa thu hút được người học và chưa tạo sự an tâm cho học sinh, gia đình và xã hội, do việc triển khai thiếu thống nhất, thiếu khung chương trình và chuẩn năng lực tối thiểu về trình độ văn hóa THPT, kỹ năng nghề, cơ hội liên thông và học tập suốt đời.
Mô hình trung học nghề trong Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ năm 2026, đã khẳng định giá trị bằng cấp tương đương THPT rất quan trọng. Điều này giúp thu hút học sinh có định hướng nghề nghiệp sớm theo học trung học nghề và mở rộng cơ hội học tập suốt đời theo khung trình độ quốc gia.
Trong thời gian tới, để triển khai hiệu quả mô hình trung học nghề - một bộ phận quan trọng của giáo dục quốc dân - đã được Luật hóa trong Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến về giá trị pháp lý, vai trò, sứ mệnh, mục đích và ý nghĩa của bằng cấp tương đương THPT của trung học nghề.
Đặc biệt, cần đảm bảo người học hoàn thành khối lượng “văn hóa THPT cốt lõi” sau tốt nghiệp và được cấp bằng nghề bậc 3 hoặc bậc 4, tùy theo chương trình học và ngành nghề theo học. Như vậy, mô hình này chắc chắn sẽ thu hút người học, hình thành nguồn nhân lực nghề có chất lượng, đồng thời bảo đảm tính liên thông và đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người học cũng như của lực lượng lao động nghề.
GS.TSKH Dương Quý Sỹ phát biểu ý kiến trong một phiên họp toàn thể của Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực. Ảnh: NVCC


Bảo đảm học vấn, kỹ năng nghề nòng cốt

- Theo ông, cần thiết kế chương trình giáo dục trung học nghề ra sao để bảo đảm kế thừa các nguồn lực sẵn có của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và hội nhập quốc tế?
- Để bảo đảm tính kế thừa các nguồn lực sẵn có của hệ thống giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là những điều kiện thuận lợi khách quan trong giai đoạn hiện nay khi sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng tinh gọn, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW và đồng bộ với mô hình tổ chức chính quyền hai cấp, mô hình trung học nghề cần được thiết kế trên cơ sở kế thừa hợp lý các nguồn lực hiện có.
Cụ thể, mô hình này kế thừa đội ngũ giáo viên giảng dạy văn hóa trung học phổ thông từ các trung tâm giáo dục thường xuyên, là những cơ sở được định hướng sáp nhập hoặc giải thể do chức năng, nhiệm vụ trong thời gian tới sẽ bị thu hẹp. Đồng thời, mô hình trung học nghề kế thừa năng lực đào tạo nghề từ các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt các trường trung cấp nghề đang gặp khó khăn trong việc thu hút người học.
Vì vậy, việc thiết kế chương trình giáo dục trung học nghề về cơ bản phải dựa trên nguồn lực con người và cơ sở vật chất hiện có của hệ thống giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp. Nhưng chỉ nên triển khai tại những cơ sở giáo dục nghề nghiệp đủ điều kiện, phù hợp với mục tiêu giáo dục, bảo đảm trang bị cho người học khối lượng “văn hóa trung học phổ thông cốt lõi” và đạt “chuẩn năng lực nghề nòng cốt” ở bậc ba hoặc bậc bốn, tương ứng với từng ngành, nghề và nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội.
Trường cao đẳng có năng lực đào tạo tốt, bảo đảm về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên giảng dạy văn hóa THPT, có mối liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp là những đơn vị có nhiều thuận lợi để triển khai mô hình trung học nghề gắn với đào tạo nghề bậc ba và bậc bốn, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, chất lượng nguồn nhân lực và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.
Trường trung cấp nghề có thể tham gia triển khai mô hình này theo hướng linh hoạt, tập trung đào tạo nghề bậc ba, tùy thuộc vào đặc thù ngành, nghề, nhu cầu lao động và năng lực bảo đảm chất lượng của từng cơ sở đào tạo.
Ngoài ra, để tạo đột phá trong việc triển khai chương trình trung học nghề theo tinh thần Nghị quyết số 59-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW về hội nhập quốc tế, bên cạnh chương trình trung học nghề truyền thống được quy định trong Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), cần xây dựng các chương trình trung học nghề tiên tiến hoặc chất lượng cao.
Các chương trình này nhằm bảo đảm người học có đủ năng lực chuyên môn để hội nhập vào thị trường lao động khu vực và toàn cầu. Cụ thể là những thị trường có nhu cầu cao về nguồn nhân lực nghề chất lượng, với yêu cầu khắt khe về tay nghề, năng lực ngoại ngữ, năng lực công nghệ, trí tuệ nhân tạo và khả năng học tập, phát triển ở trình độ cao hơn.
Do vậy, các chương trình trung học nghề có thể được triển khai thông qua liên kết đào tạo trong nước và quốc tế, tận dụng thế mạnh về giảng dạy văn hóa hoặc thực hành nghề của các cơ sở tham gia liên kết, đồng thời tiếp nhận và chuyển giao các chương trình đào tạo nghề quốc tế.
Việc triển khai cần gắn chặt với các quy trình kiểm định, đánh giá năng lực, bảo đảm chất lượng và cấp phép chặt chẽ; đồng thời đề cao tính tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thực hiện chương trình giáo dục trung học nghề. Qua đó, bảo đảm tính bền vững, hiệu quả và tiên tiến của mô hình trung học nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân.
- Ông có thể đề xuất cụ thể về cách thức tổ chức đào tạo, nội dung chương trình, cũng như phương án đánh giá và công nhận tốt nghiệp đối với mô hình giáo dục trung học nghề?
- Chương trình trung học nghề cần được thiết kế theo hướng cân đối, có trọng tâm. Theo đó, khoảng 40% tổng thời gian đào tạo trong ba năm dành cho khối kiến thức “văn hóa trung học phổ thông cốt lõi”, tương đương khoảng 50% nội dung chương trình THPT hiện hành, nhằm bảo đảm người học có nền tảng học vấn cần thiết, đủ điều kiện học tiếp và hội nhập xã hội.
Khoảng 60% thời gian còn lại dành cho đào tạo nghề, tập trung vào thực hành và “kỹ năng nghề nòng cốt”, tương ứng khoảng 70% khối lượng kiến thức, kỹ năng nghề tối thiểu theo chuẩn đầu ra, giúp người học hình thành năng lực nghề nghiệp thực chất.
Về chuẩn đầu ra, cần thiết kế chương trình giáo dục theo hướng người học tốt nghiệp trung học nghề được cấp bằng có giá trị pháp lý tương đương bằng THPT, như đã quy định trong Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), đồng thời được cấp bằng nghề bậc ba hoặc bậc bốn theo ngành, nghề lựa chọn và chương trình đào tạo.
Cách tiếp cận này vừa bảo đảm giá trị pháp lý và giá trị xã hội của văn bằng, vừa giúp người học có thể tham gia thị trường lao động ngay sau khi tốt nghiệp, đồng thời giữ nguyên khả năng liên thông lên trình độ trung cấp, cao đẳng hoặc đại học, phù hợp với tinh thần phân luồng theo “lộ trình mở” và “học tập suốt đời”.
GS.TSKH. Dương Quý Sỹ trao chứng nhận kỹ năng thực hành nghề nghiệp cho sinh viên y khoa Đại học Penn State qua học tập tại Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng. Ảnh: NVCC


Cần đồng bộ giải pháp thực thi

- Để mô hình trung học nghề có thể đi vào thực tiễn một cách hiệu quả, theo ông, những điều kiện then chốt nào cần được chuẩn bị và triển khai ngay?
- Để mô hình trung học nghề có thể đi vào thực tiễn hiệu quả, cần đồng thời chuẩn bị, triển khai một số điều kiện then chốt, mang tính hệ thống như sau:
Thứ nhất, mô hình trung học nghề cần được cụ thể hóa rõ ràng trong hệ thống văn bản dưới luật, trên cơ sở Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua. Việc cụ thể hóa này cần được thực hiện thông qua các nghị định của Chính phủ và các thông tư hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, cũng như các thông tư liên bộ khi cần thiết. Điều này nhằm xác lập rõ vị trí pháp lý, chuẩn đầu ra và cơ chế vận hành của mô hình trung học nghề; tránh tình trạng “luật mở” nhưng việc tổ chức thực hiện còn lúng túng như đã từng xảy ra.
Thứ hai, cần xây dựng một khung chương trình “văn hóa THPT cốt lõi” dành riêng cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tổ chức thực hiện dạy văn hóa song song với đào tạo nghề. Khung chương trình này phải bảo đảm chuẩn năng lực văn hóa THPT thiết yếu, có tính thống nhất trên phạm vi toàn quốc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người học học tiếp ở các trình độ cao hơn.
Thứ ba, triển khai trung học nghề không thể dàn trải mà cần gắn với quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đủ điều kiện tham gia thực hiện. Quy hoạch phải tính đến năng lực đội ngũ, cơ sở vật chất, đặc thù vùng miền, nhu cầu nhân lực, nhằm bảo đảm chất lượng và tính bền vững của mô hình.
Thứ tư, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tham gia chương trình trung học nghề cần chủ động xây dựng và tổ chức các chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Ưu tiên các ngành, nghề có tiềm năng phát triển và sức hút đối với người học, như: Công nghệ sinh học, công nghệ bán dẫn, điện hạt nhân, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch, nghe - nhìn thông minh, thời trang cao cấp, nghệ thuật đương đại...
Thứ năm, Nhà nước và doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực trung học nghề cần có chính sách hỗ trợ thiết thực, như hỗ trợ học phí cho học sinh tốt nghiệp THCS tham gia học trung học nghề, đồng thời xây dựng các chính sách thu hút, bố trí việc làm sau đào tạo. Đây là yếu tố then chốt để tạo niềm tin cho người học và gia đình.
- Trân trọng cảm ơn ông!
“Cần đẩy mạnh công tác truyền thông và phổ biến một cách đúng mực, có cơ sở; làm rõ ưu điểm của mô hình trung học nghề (bảo đảm đồng thời chuẩn năng lực văn hóa và tay nghề, rút ngắn thời gian đào tạo, tiết kiệm nguồn lực, cơ hội việc làm và học liên thông cao...). Khi người học nhìn thấy lợi ích thực chất, phân luồng sẽ diễn ra một cách tự nhiên và bền vững, tạo điều kiện cho học sinh có thiên hướng nghề nghiệp sớm chọn lựa theo học trung học nghề”. - GS.TSKH.BS Dương Quý Sỹ

Sinh viên Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội. Ảnh: NTCC

Song để tránh “luật mở” nhưng triển khai lúng túng, cần một khung thực thi đồng bộ, rõ ràng, khả thi.

Bài học từ thực tiễn

- Từ thực tiễn Việt Nam, theo ông có thể rút ra bài học gì để triển khai mô hình trung học nghề một cách bền vững?
- Việt Nam đã có nhiều mô hình giáo dục được thiết kế tương đương như cấp THPT kể từ sau khi thống nhất đất nước cho đến nay, nhưng hầu như đều không đạt được mục tiêu đích thực của yêu cầu thực tiễn và tính phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ.
Đầu tiên là chương trình bổ túc văn hóa THPT bắt đầu từ những năm 1980 và được thể chế hóa trong Luật Giáo dục các năm 1998, 2005, 2019 dưới hình thức giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hình thức này nhằm mở rộng cơ hội học tập cho những người không theo học phổ thông chính quy, với giá trị pháp lý tương đương bằng THPT.
Tuy nhiên, do chất lượng chưa đồng đều, việc tổ chức tại các trung tâm giáo dục thường xuyên thiếu gắn kết với kỹ năng nghề, cùng với việc bằng cấp thường bị đánh giá thấp, hình thức này gặp nhiều khó khăn trong việc học nâng cao và đến nay vẫn được xem là lựa chọn thứ yếu của người học.
Hình thức thứ hai là mô hình trung học chuyên nghiệp kết hợp với học bổ túc văn hóa THPT, được triển khai nhằm giúp học sinh vừa học nghề vừa hoàn thiện trình độ văn hóa THPT. Tuy nhiên, việc học văn hóa và học nghề được tổ chức theo hai hệ tách rời, thiếu một chuẩn tích hợp thống nhất và chưa có vị thế pháp lý rõ ràng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Sau khi Luật Dạy nghề (Luật 76/2006/QH11) được ban hành, hệ thống giáo dục Việt Nam mở rộng mô hình học trung cấp nghề hoặc trung cấp chuyên nghiệp sau THCS, kết hợp với học một phần văn hóa phổ thông, nhằm giúp phân luồng sớm và đạt trình độ tương đương THPT.
Tuy nhiên, do không có chuẩn văn hóa đầy đủ, văn bằng của mô hình này không thể thay thế bằng THPT. Mô hình này vẫn được duy trì từ năm 2014 đến nay, bởi Luật Giáo dục nghề nghiệp tiếp tục cho phép đào tạo sau THCS và dạy văn hóa song song.
Thế nhưng, theo Thông tư 15/2022/TT-BGDĐT, sau khi học sinh hoàn thành chương trình và thi đạt yêu cầu, họ chỉ được cấp giấy chứng nhận hoàn thành khối lượng kiến thức văn hóa THPT cần thiết để theo học trình độ cao hơn trong giáo dục nghề nghiệp.
Do vậy, qua các giai đoạn phát triển của đất nước, mặc dù mục tiêu xuyên suốt là phổ cập giáo dục phổ thông và định hướng nghề nghiệp để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, hệ thống giáo dục Việt Nam đã triển khai nhiều mô hình tương đương THPT nhưng hiệu quả chưa cao.
Nguyên nhân là các mô hình này chưa thu hút được người học và chưa tạo sự an tâm cho học sinh, gia đình và xã hội, do việc triển khai thiếu thống nhất, thiếu khung chương trình và chuẩn năng lực tối thiểu về trình độ văn hóa THPT, kỹ năng nghề, cơ hội liên thông và học tập suốt đời.
Mô hình trung học nghề trong Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ năm 2026, đã khẳng định giá trị bằng cấp tương đương THPT rất quan trọng. Điều này giúp thu hút học sinh có định hướng nghề nghiệp sớm theo học trung học nghề và mở rộng cơ hội học tập suốt đời theo khung trình độ quốc gia.
Trong thời gian tới, để triển khai hiệu quả mô hình trung học nghề - một bộ phận quan trọng của giáo dục quốc dân - đã được Luật hóa trong Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến về giá trị pháp lý, vai trò, sứ mệnh, mục đích và ý nghĩa của bằng cấp tương đương THPT của trung học nghề.
Đặc biệt, cần đảm bảo người học hoàn thành khối lượng “văn hóa THPT cốt lõi” sau tốt nghiệp và được cấp bằng nghề bậc 3 hoặc bậc 4, tùy theo chương trình học và ngành nghề theo học. Như vậy, mô hình này chắc chắn sẽ thu hút người học, hình thành nguồn nhân lực nghề có chất lượng, đồng thời bảo đảm tính liên thông và đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người học cũng như của lực lượng lao động nghề.
GS.TSKH Dương Quý Sỹ phát biểu ý kiến trong một phiên họp toàn thể của Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực. Ảnh: NVCC


Bảo đảm học vấn, kỹ năng nghề nòng cốt

- Theo ông, cần thiết kế chương trình giáo dục trung học nghề ra sao để bảo đảm kế thừa các nguồn lực sẵn có của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và hội nhập quốc tế?
- Để bảo đảm tính kế thừa các nguồn lực sẵn có của hệ thống giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là những điều kiện thuận lợi khách quan trong giai đoạn hiện nay khi sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng tinh gọn, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW và đồng bộ với mô hình tổ chức chính quyền hai cấp, mô hình trung học nghề cần được thiết kế trên cơ sở kế thừa hợp lý các nguồn lực hiện có.
Cụ thể, mô hình này kế thừa đội ngũ giáo viên giảng dạy văn hóa trung học phổ thông từ các trung tâm giáo dục thường xuyên, là những cơ sở được định hướng sáp nhập hoặc giải thể do chức năng, nhiệm vụ trong thời gian tới sẽ bị thu hẹp. Đồng thời, mô hình trung học nghề kế thừa năng lực đào tạo nghề từ các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt các trường trung cấp nghề đang gặp khó khăn trong việc thu hút người học.
Vì vậy, việc thiết kế chương trình giáo dục trung học nghề về cơ bản phải dựa trên nguồn lực con người và cơ sở vật chất hiện có của hệ thống giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp. Nhưng chỉ nên triển khai tại những cơ sở giáo dục nghề nghiệp đủ điều kiện, phù hợp với mục tiêu giáo dục, bảo đảm trang bị cho người học khối lượng “văn hóa trung học phổ thông cốt lõi” và đạt “chuẩn năng lực nghề nòng cốt” ở bậc ba hoặc bậc bốn, tương ứng với từng ngành, nghề và nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội.
Trường cao đẳng có năng lực đào tạo tốt, bảo đảm về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên giảng dạy văn hóa THPT, có mối liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp là những đơn vị có nhiều thuận lợi để triển khai mô hình trung học nghề gắn với đào tạo nghề bậc ba và bậc bốn, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, chất lượng nguồn nhân lực và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.
Trường trung cấp nghề có thể tham gia triển khai mô hình này theo hướng linh hoạt, tập trung đào tạo nghề bậc ba, tùy thuộc vào đặc thù ngành, nghề, nhu cầu lao động và năng lực bảo đảm chất lượng của từng cơ sở đào tạo.
Ngoài ra, để tạo đột phá trong việc triển khai chương trình trung học nghề theo tinh thần Nghị quyết số 59-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW về hội nhập quốc tế, bên cạnh chương trình trung học nghề truyền thống được quy định trong Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), cần xây dựng các chương trình trung học nghề tiên tiến hoặc chất lượng cao.
Các chương trình này nhằm bảo đảm người học có đủ năng lực chuyên môn để hội nhập vào thị trường lao động khu vực và toàn cầu. Cụ thể là những thị trường có nhu cầu cao về nguồn nhân lực nghề chất lượng, với yêu cầu khắt khe về tay nghề, năng lực ngoại ngữ, năng lực công nghệ, trí tuệ nhân tạo và khả năng học tập, phát triển ở trình độ cao hơn.
Do vậy, các chương trình trung học nghề có thể được triển khai thông qua liên kết đào tạo trong nước và quốc tế, tận dụng thế mạnh về giảng dạy văn hóa hoặc thực hành nghề của các cơ sở tham gia liên kết, đồng thời tiếp nhận và chuyển giao các chương trình đào tạo nghề quốc tế.
Việc triển khai cần gắn chặt với các quy trình kiểm định, đánh giá năng lực, bảo đảm chất lượng và cấp phép chặt chẽ; đồng thời đề cao tính tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thực hiện chương trình giáo dục trung học nghề. Qua đó, bảo đảm tính bền vững, hiệu quả và tiên tiến của mô hình trung học nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân.
- Ông có thể đề xuất cụ thể về cách thức tổ chức đào tạo, nội dung chương trình, cũng như phương án đánh giá và công nhận tốt nghiệp đối với mô hình giáo dục trung học nghề?
- Chương trình trung học nghề cần được thiết kế theo hướng cân đối, có trọng tâm. Theo đó, khoảng 40% tổng thời gian đào tạo trong ba năm dành cho khối kiến thức “văn hóa trung học phổ thông cốt lõi”, tương đương khoảng 50% nội dung chương trình THPT hiện hành, nhằm bảo đảm người học có nền tảng học vấn cần thiết, đủ điều kiện học tiếp và hội nhập xã hội.
Khoảng 60% thời gian còn lại dành cho đào tạo nghề, tập trung vào thực hành và “kỹ năng nghề nòng cốt”, tương ứng khoảng 70% khối lượng kiến thức, kỹ năng nghề tối thiểu theo chuẩn đầu ra, giúp người học hình thành năng lực nghề nghiệp thực chất.
Về chuẩn đầu ra, cần thiết kế chương trình giáo dục theo hướng người học tốt nghiệp trung học nghề được cấp bằng có giá trị pháp lý tương đương bằng THPT, như đã quy định trong Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), đồng thời được cấp bằng nghề bậc ba hoặc bậc bốn theo ngành, nghề lựa chọn và chương trình đào tạo.
Cách tiếp cận này vừa bảo đảm giá trị pháp lý và giá trị xã hội của văn bằng, vừa giúp người học có thể tham gia thị trường lao động ngay sau khi tốt nghiệp, đồng thời giữ nguyên khả năng liên thông lên trình độ trung cấp, cao đẳng hoặc đại học, phù hợp với tinh thần phân luồng theo “lộ trình mở” và “học tập suốt đời”.
GS.TSKH. Dương Quý Sỹ trao chứng nhận kỹ năng thực hành nghề nghiệp cho sinh viên y khoa Đại học Penn State qua học tập tại Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng. Ảnh: NVCC


Cần đồng bộ giải pháp thực thi

- Để mô hình trung học nghề có thể đi vào thực tiễn một cách hiệu quả, theo ông, những điều kiện then chốt nào cần được chuẩn bị và triển khai ngay?
- Để mô hình trung học nghề có thể đi vào thực tiễn hiệu quả, cần đồng thời chuẩn bị, triển khai một số điều kiện then chốt, mang tính hệ thống như sau:
Thứ nhất, mô hình trung học nghề cần được cụ thể hóa rõ ràng trong hệ thống văn bản dưới luật, trên cơ sở Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua. Việc cụ thể hóa này cần được thực hiện thông qua các nghị định của Chính phủ và các thông tư hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, cũng như các thông tư liên bộ khi cần thiết. Điều này nhằm xác lập rõ vị trí pháp lý, chuẩn đầu ra và cơ chế vận hành của mô hình trung học nghề; tránh tình trạng “luật mở” nhưng việc tổ chức thực hiện còn lúng túng như đã từng xảy ra.
Thứ hai, cần xây dựng một khung chương trình “văn hóa THPT cốt lõi” dành riêng cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tổ chức thực hiện dạy văn hóa song song với đào tạo nghề. Khung chương trình này phải bảo đảm chuẩn năng lực văn hóa THPT thiết yếu, có tính thống nhất trên phạm vi toàn quốc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người học học tiếp ở các trình độ cao hơn.
Thứ ba, triển khai trung học nghề không thể dàn trải mà cần gắn với quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đủ điều kiện tham gia thực hiện. Quy hoạch phải tính đến năng lực đội ngũ, cơ sở vật chất, đặc thù vùng miền, nhu cầu nhân lực, nhằm bảo đảm chất lượng và tính bền vững của mô hình.
Thứ tư, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tham gia chương trình trung học nghề cần chủ động xây dựng và tổ chức các chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Ưu tiên các ngành, nghề có tiềm năng phát triển và sức hút đối với người học, như: Công nghệ sinh học, công nghệ bán dẫn, điện hạt nhân, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch, nghe - nhìn thông minh, thời trang cao cấp, nghệ thuật đương đại...
Thứ năm, Nhà nước và doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực trung học nghề cần có chính sách hỗ trợ thiết thực, như hỗ trợ học phí cho học sinh tốt nghiệp THCS tham gia học trung học nghề, đồng thời xây dựng các chính sách thu hút, bố trí việc làm sau đào tạo. Đây là yếu tố then chốt để tạo niềm tin cho người học và gia đình.
- Trân trọng cảm ơn ông!
“Cần đẩy mạnh công tác truyền thông và phổ biến một cách đúng mực, có cơ sở; làm rõ ưu điểm của mô hình trung học nghề (bảo đảm đồng thời chuẩn năng lực văn hóa và tay nghề, rút ngắn thời gian đào tạo, tiết kiệm nguồn lực, cơ hội việc làm và học liên thông cao...). Khi người học nhìn thấy lợi ích thực chất, phân luồng sẽ diễn ra một cách tự nhiên và bền vững, tạo điều kiện cho học sinh có thiên hướng nghề nghiệp sớm chọn lựa theo học trung học nghề”. - GS.TSKH.BS Dương Quý Sỹ

Chia sẻ
trung học nghềtránh luật mở nhưng thực thi lúng túngluật hóa mô hình trung học nghềmô hình trung học nghềmô hình trung học chuyên nghiệpchương trình trung học nghềcơ hội phân luồnghọc tập suốt đời
Theo Hiếu Nguyễn (Thực hiện)
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/01/13 10:05 (GMT+7)

Xem thêm Trao đổi - kết nối

Đổi mới lãnh đạo, quản lý giáo dục đại học trong kỷ nguyên AI
Trao đổi - kết nối

Đổi mới lãnh đạo, quản lý giáo dục đại học trong kỷ nguyên AI

Từ đổi mới dạy học hướng tới xây dựng mô hình trường học sáng tạo ở Phú Thọ
Trao đổi - kết nối

Từ đổi mới dạy học hướng tới xây dựng mô hình trường học sáng tạo ở Phú Thọ

3 thành tố năng lực giúp giáo viên sử dụng hiệu quả tiếng Anh trong dạy học
Trao đổi - kết nối

3 thành tố năng lực giúp giáo viên sử dụng hiệu quả tiếng Anh trong dạy học

Từ mô hình thực tiễn đến yêu cầu hoàn thiện chính sách về dinh dưỡng học đường
Trao đổi - kết nối

Từ mô hình thực tiễn đến yêu cầu hoàn thiện chính sách về dinh dưỡng học đường

Khơi dậy tư duy và phát triển năng lực số cho học sinh
Trao đổi - kết nối

Khơi dậy tư duy và phát triển năng lực số cho học sinh

Công bố kết quả nổi bật về đội ngũ giáo viên, môi trường dạy-học tại Việt Nam
Trao đổi - kết nối

Công bố kết quả nổi bật về đội ngũ giáo viên, môi trường dạy-học tại Việt Nam

Mới nhất

2026-10-15 01:54

Biến không gian sinh hoạt dưới cờ thành những bài học bổ ích

GD&TĐ - Trong tiết Sinh hoạt dưới cờ đầu tuần, nhiều trường tại Hà Nội tổ chức các hoạt động tuyên truyền bổ ích đem lại những bài học quý giá cho học sinh.

Biến không gian sinh hoạt dưới cờ thành những bài học bổ ích
2026-10-15 01:54

Bồi đắp lòng biết ơn, trách nhiệm cho học sinh từ truyền thống phụ nữ Việt Nam

GD&TĐ - Từ những câu chuyện của bà Trương Mỹ Hoa, học sinh thêm tự hào về truyền thống phụ nữ Việt Nam, nuôi dưỡng lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm.

Bồi đắp lòng biết ơn, trách nhiệm cho học sinh từ truyền thống phụ nữ Việt Nam
2026-10-15 01:54

Phát triển năng lực cho học sinh qua giáo dục STEM, STEAM ở Phú Thọ

GD&TĐ - Trường học ở Phú Thọ đẩy mạnh giáo dục STEM, STEAM qua thực hành, trải nghiệm, phát triển năng lực học sinh.

Phát triển năng lực cho học sinh qua giáo dục STEM, STEAM ở Phú Thọ
2026-10-15 01:53

Khi nhà trường đưa văn chương ra khỏi trang sách, học sinh thành người kể chuyện

GD&TĐ - Dự án “Lê Quý Đôn RE:CODE” tại Trường THPT Lê Quý Đôn (TPHCM) mở ra cách tiếp cận mới với môn Ngữ văn, để học sinh trở thành người kể chuyện.

Khi nhà trường đưa văn chương ra khỏi trang sách, học sinh thành người kể chuyện
2026-10-15 01:53

Sinh viên ĐH Lạc Hồng đạt giải xuất sắc nhất hạng mục đồng đội K-Speech 2026

GD&TĐ - Đội sinh viên ngành Hàn Quốc học, Trường Đại học Lạc Hồng là đại diện Việt Nam tham dự cuộc thi Hùng biện tiếng Hàn Thế giới K-Speech 2026.

Sinh viên ĐH Lạc Hồng đạt giải xuất sắc nhất hạng mục đồng đội K-Speech 2026
2026-10-12 04:17

Sinh viên chủ động đón đầu xu hướng nghề nghiệp liên ngành, công nghệ

GD&TĐ - Ngày hội Sinh viên và Doanh nghiệp năm 2026 tạo cơ hội để sinh viên chủ động tìm hiểu thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp.

Sinh viên chủ động đón đầu xu hướng nghề nghiệp liên ngành, công nghệ
2026-10-12 02:13

Trí tuệ nhân tạo: Cuộc cách mạng hay thách thức mới của khoa học xã hội?

GD&TĐ - Trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi mạnh mẽ cách thức nghiên cứu khoa học xã hội, từ thu thập dữ liệu đến phân tích và viết báo cáo.

Trí tuệ nhân tạo: Cuộc cách mạng hay thách thức mới của khoa học xã hội?
2026-10-12 02:12

Phụ cấp chức vụ cán bộ quản lý giáo dục: Cần theo sát quy mô trường

GD&TĐ - Sau sắp xếp, quy mô trường lớp, số học sinh và phạm vi quản lý tại nhiều cơ sở giáo dục có sự thay đổi đáng kể.

Phụ cấp chức vụ cán bộ quản lý giáo dục: Cần theo sát quy mô trường
2026-10-12 02:12

Đào tạo nhân lực hệ thống thông minh trước yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin

GD&TĐ - Bối cảnh AI, Internet vạn vật tích hợp vào các hệ thống thông minh, yêu cầu an toàn thông tin đặt ra bài toán với đào tạo nhân lực công nghệ.

Đào tạo nhân lực hệ thống thông minh trước yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin
2026-10-12 02:11

Phân luồng sau THCS từ lựa chọn học nghề

GD&TĐ - Năm học 2025-2026, Ninh Bình có 10.513 học sinh học nghề theo hình thức liên kết tại các trung tâm GDNN-GDTX, tạo thêm lựa chọn sau THCS.

Phân luồng sau THCS từ lựa chọn học nghề