Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Giáo dục đại học Việt Nam: Bước chuyển chiến lược từ Nghị quyết 71

2026/01/21 16:46

GD&TĐ - Để hiện thực hóa Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, các chuyên gia, nhà khoa học và đại biểu Quốc hội đề xuất nhiều giải pháp đầu tư phù hợp cho giáo dục đại học, trong đó bao gồm các chính sách về tài chính, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhằm tạo nền tảng phát triển lâu dài và bền vững.



Cơ chế tài chính, khoa học - công nghệ mở đường

Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, đại biểu Quốc hội TP Hà Nội và Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71) đã mở ra giai đoạn đổi mới quan trọng, với nhiều cơ chế và chính sách mang tính nền tảng, dài hạn cho phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Một điểm nổi bật của Nghị quyết là tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học.
Các quy định cho phép góp vốn bằng tài sản trí tuệ, hình thành doanh nghiệp Spin-off, mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, cùng với các ưu tiên về đầu tư và quỹ đất là những giải pháp mang tính đột phá. Những cơ chế này giúp các trường đại học không chỉ là nơi đào tạo, nghiên cứu mà còn từng bước trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, gắn kết chặt chẽ với thực tiễn sản xuất và kinh doanh, từ đó có thêm nguồn lực để phát triển bền vững.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mới tích cực, đại biểu Nguyễn Thị Lan thẳng thắn chỉ ra một vấn đề chiến lược, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết hiện nay, đó là phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực nông nghiệp và các ngành thiết yếu liên quan.
Theo bà, đây là lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế, an ninh lương thực, sinh kế của hàng chục triệu người dân và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nhưng đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu hút người học.
Giờ thực hành của sinh viên Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: NTCC


“Khoảng trống chính sách”

GS.TS Nguyễn Thị Lan cho biết vẫn còn “khoảng trống chính sách” đáng lưu ý đối với lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Thực tế cho thấy khu vực này đang thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng chưa được đặt đúng vị trí trong các ưu tiên chiến lược về đào tạo và sử dụng nhân lực.
Nhiều năm qua, hàng loạt ngành được coi là “xương sống” của nông nghiệp Việt Nam như: Khoa học đất, khoa học cây trồng, chăn nuôi, bảo vệ thực vật, kinh tế – kinh doanh nông nghiệp, phát triển nông thôn, khuyến nông, phòng chống thiên tai, thủy sản, lâm nghiệp… đều gặp khó khăn trong tuyển sinh.
Ngay cả những ngành then chốt trong chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại như: Công nghệ sau thu hoạch, kỹ thuật tài nguyên nước cũng không ngoại lệ. Trong khi đó, nhu cầu xã hội và doanh nghiệp đối với các ngành này rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi sang nông nghiệp xanh, nông nghiệp công nghệ cao và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ đặc thù nghề nghiệp vất vả, môi trường làm việc nhiều thách thức, thu nhập chưa tương xứng, trong khi các chính sách hỗ trợ, khuyến khích người học lựa chọn ngành nghề còn thiếu và chưa đủ mạnh. Điều này khiến các ngành nông nghiệp, dù có vai trò sống còn đối với phát triển bền vững của đất nước, vẫn chưa tạo được sức hút đối với người trẻ.
Dẫn kinh nghiệm quốc tế, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho hay nhiều quốc gia đã thành công trong việc thu hút nhân lực cho các lĩnh vực khó bằng những chính sách mang tính mục tiêu và dài hạn.
Các nước như Hàn Quốc, Singapore, Israel, Australia hay nhiều quốc gia thuộc Liên minh châu Âu đã triển khai hiệu quả các giải pháp như học bổng theo ngành ưu tiên, cam kết việc làm sau tốt nghiệp, đặt hàng đào tạo từ Nhà nước và doanh nghiệp, phụ cấp nghề nghiệp, cũng như tái định vị hình ảnh xã hội của ngành nghề. Khi có chính sách đủ mạnh và nhất quán, ngay cả những lĩnh vực vốn ít hấp dẫn cũng có thể thu hút đông đảo người học và đáp ứng tốt nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Trên cơ sở đó, GS.TS Nguyễn Thị Lan cho rằng cần triển khai các cơ chế ưu tiên cụ thể cho lĩnh vực nông nghiệp và các ngành thiết yếu. Trong đó, nên có học bổng mục tiêu theo ngành, tín dụng ưu đãi gắn với cam kết làm việc, cơ chế đặt hàng đào tạo từ Nhà nước và doanh nghiệp, đồng thời đầu tư mạnh mẽ cho hệ thống phòng thí nghiệm, mô hình thực hành và cơ sở nghiên cứu hiện đại. Việc tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng được xem là giải pháp then chốt, vừa nâng cao chất lượng đào tạo, vừa bảo đảm đầu ra và tạo niềm tin cho người học.
Bên cạnh các chính sách ưu đãi trực tiếp, đại biểu Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng cơ chế dự báo nhu cầu nhân lực quốc gia theo ngành và lĩnh vực. Hiện nay, quy mô đào tạo còn phụ thuộc nhiều vào tín hiệu thị trường mang tính tự phát, dẫn đến tình trạng lệch pha cung – cầu.
Có những ngành thu hút đông người học nhưng khả năng hấp thụ của thị trường lao động lại hạn chế, trong khi nhiều lĩnh vực thiết yếu liên quan đến an ninh lương thực, quản lý tài nguyên, phòng chống thiên tai và phát triển nông nghiệp bền vững lại thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực chất lượng cao.
Theo đại biểu, kinh nghiệm của Liên minh châu Âu, Hàn Quốc và Singapore cho thấy hệ thống dự báo nhân lực quốc gia theo ngành và nghề đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều chỉnh quy mô đào tạo, phân bổ nguồn lực và định hướng phát triển giáo dục – đào tạo.
Vì vậy, cần giao Chính phủ xây dựng và công bố định kỳ các dự báo nhân lực quốc gia, làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương và cơ sở đào tạo xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp, góp phần cân đối cung – cầu lao động và phục vụ hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
Sinh viên Trường Đại học Hùng Vương TPHCM trải nghiệm thực tế tại doanh nghiệp. Ảnh: Website nhà trường


Thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo trong tự chủ đại học

Nghị quyết số 71 tiếp tục khẳng định giáo dục là “quốc sách hàng đầu” và nhấn mạnh yêu cầu thiết lập các cơ chế “đặc thù, vượt trội” nhằm thúc đẩy phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới.
Trên cơ sở tầm nhìn chiến lược này, PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng hệ thống giáo dục đại học Việt Nam cần tiếp cận bằng những nhóm giải pháp trọng tâm, có cơ sở khoa học và thực tiễn, dựa trên phân tích kinh nghiệm quốc tế cũng như nhu cầu phát triển trong nước.
Một trong những trụ cột quan trọng được PGS.TS Trần Thành Nam nhấn mạnh là tài chính đại học. Theo ông, để thực hiện thành công tự chủ đại học và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu, cần đa dạng hóa nguồn lực tài chính. Bên cạnh việc tăng trích ngân sách Nhà nước cho giáo dục đại học, hướng tới mức 1,5–2% GDP, cần khuyến khích hình thành các quỹ tự chủ đại học đi kèm chính sách tài trợ minh bạch, ổn định và dài hạn.
Những quỹ này có thể được hình thành từ đóng góp của doanh nghiệp, cựu sinh viên thành đạt và các tổ chức xã hội, qua đó hỗ trợ học bổng, nghiên cứu khoa học và các hoạt động học thuật trọng điểm.
Theo PGS.TS Trần Thành Nam, kinh nghiệm quốc tế cho thấy hợp tác công - tư trong nghiên cứu và giáo dục là xu hướng tất yếu. Nhiều quốc gia đã triển khai thành công mô hình doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu, thậm chí chi trả lương cho giảng viên để cùng thực hiện các dự án chung.
Những mô hình này không chỉ gia tăng nguồn lực tài chính mà còn rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu hàn lâm và nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Tuy nhiên, tự chủ tài chính phải luôn đi đôi với trách nhiệm giải trình, công khai và minh bạch, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục đại học.
Bên cạnh tài chính, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo được xem là động lực then chốt để nâng tầm giáo dục đại học. PGS.TS Trần Thành Nam gợi mở cần tiếp tục đột phá các cơ chế khuyến khích công bố quốc tế và đăng ký sáng chế, gắn chặt với các chỉ tiêu khoa học – công nghệ mà Nghị quyết 71 đã đề ra. Việc tăng chỉ tiêu kinh phí nghiên cứu hằng năm cần được thực hiện song hành với cơ chế đánh giá kết quả đầu ra, nhằm tạo động lực thực chất cho đội ngũ giảng viên và nhà khoa học.
Ông cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh liên kết nghiên cứu công – tư, đồng thời đầu tư xây dựng hạ tầng nghiên cứu dùng chung như phòng thí nghiệm, cụm công nghệ và trung tâm nghiên cứu liên ngành để nhiều cơ sở giáo dục đại học cùng khai thác.
Kinh nghiệm từ Singapore và Trung Quốc cho thấy việc thành lập các trung tâm xuất sắc liên kết giữa đại học và doanh nghiệp theo các lĩnh vực ưu tiên quốc gia như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo… đã tạo ra những sản phẩm khoa học có giá trị ứng dụng cao, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế.
Một giải pháp đáng chú ý khác được PGS.TS Trần Thành Nam đề cập là chính sách “giảng viên đồng cơ hữu”. Theo đó, cần mở rộng cơ chế cho phép các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia giảng dạy kiêm nhiệm tại các trường đại học.
Đây là cách làm hiệu quả để bổ sung nguồn tri thức chất lượng cao, tăng cường mạng lưới nghiên cứu quốc tế và tạo môi trường học thuật đa dạng cho người học. Nếu triển khai đồng bộ, chính sách này sẽ giúp các trường đại học Việt Nam tiếp cận nhanh hơn với tri thức tiên tiến của thế giới.
Nhấn mạnh vai trò của Nghị định số 249/2025/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách thu hút và trọng dụng chuyên gia khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng đây là khung pháp lý nền tảng, tạo điều kiện quan trọng để thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, trong đó có đội ngũ giảng viên và nhà khoa học quốc tế tham gia vào hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Vấn đề đặt ra là cần triển khai Nghị định này một cách quyết liệt, đồng bộ, gắn với các chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp rõ ràng.
Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: NTCC


Tạo “đòn bẩy” giáo dục đại học

Nghị quyết số 71 xác định dành ít nhất 20% tổng chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục, đồng thời quy định nhiều chế độ ưu đãi lớn đối với đội ngũ nhà giáo. GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Viện trưởng Viện Công nghệ tiên tiến và Trí tuệ nhân tạo, Trường Đại học Hùng Vương TPHCM nêu quan điểm, việc tăng đầu tư cho giáo dục và nhà giáo không chỉ thể hiện sự quan tâm thiết thực của Đảng, mà còn là giải pháp cụ thể, mang tính quyết định để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển giáo dục đã được đề ra.
Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nguồn lực tài chính được bảo đảm sẽ tạo điều kiện quan trọng để hiện đại hóa nhà trường, khắc phục tình trạng chênh lệch về điều kiện dạy và học, hướng tới mục tiêu “trường ra trường, lớp ra lớp”.
Khi có đầu tư thỏa đáng, các cơ sở giáo dục sẽ được trang bị cơ sở vật chất và thiết bị hiện đại, nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, đồng thời thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong nhà trường, gắn chặt hơn với doanh nghiệp và nhu cầu thực tiễn.
Ngoài ra, các giải pháp tài chính mà Nghị quyết 71 đề ra chính là “đòn bẩy” quan trọng, tác động trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học, từ đó đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế của hệ thống giáo dục Việt Nam.
Đặc biệt, khi được triển khai đồng bộ với Nghị quyết 57, Nghị quyết 71 sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho việc xây dựng các mô hình đại học mới như đại học đổi mới sáng tạo, đại học công nghệ thế hệ mới, đóng vai trò nòng cốt và “đầu tàu” dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Đây là những bước đi quan trọng, đáp ứng kỳ vọng của xã hội đối với một nền giáo dục hiện đại, tiên tiến và bền vững.
Tại Lễ kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2025 và Đại hội Thi đua yêu nước ngành Giáo dục lần thứ VIII, Chủ tịch nước Lương Cường đã nêu tám nhiệm vụ trọng tâm, trong đó nhấn mạnh yêu cầu hiện đại hóa và nâng tầm giáo dục đại học nhằm tạo đột phá trong phát triển nguồn nhân lực trình độ cao và nhân tài, đồng thời đóng vai trò dẫn dắt nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.
Cùng với đó, cần tăng cường đầu tư hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật, mở rộng không gian phát triển để các trường đại học hoạt động hiệu quả; đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế; đồng thời gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, qua đó nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam.
Theo PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), chỉ khi các nhóm giải pháp về tài chính, nghiên cứu – đổi mới sáng tạo và phát triển đội ngũ được triển khai một cách nhất quán, giáo dục đại học Việt Nam mới có thể tận dụng hiệu quả cơ hội từ Nghị quyết 71, tạo bước chuyển thực chất về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Một giờ học của sinh viên Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: NTCC


Cơ chế tài chính, khoa học - công nghệ mở đường

Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, đại biểu Quốc hội TP Hà Nội và Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71) đã mở ra giai đoạn đổi mới quan trọng, với nhiều cơ chế và chính sách mang tính nền tảng, dài hạn cho phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Một điểm nổi bật của Nghị quyết là tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học.
Các quy định cho phép góp vốn bằng tài sản trí tuệ, hình thành doanh nghiệp Spin-off, mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, cùng với các ưu tiên về đầu tư và quỹ đất là những giải pháp mang tính đột phá. Những cơ chế này giúp các trường đại học không chỉ là nơi đào tạo, nghiên cứu mà còn từng bước trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, gắn kết chặt chẽ với thực tiễn sản xuất và kinh doanh, từ đó có thêm nguồn lực để phát triển bền vững.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mới tích cực, đại biểu Nguyễn Thị Lan thẳng thắn chỉ ra một vấn đề chiến lược, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết hiện nay, đó là phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực nông nghiệp và các ngành thiết yếu liên quan.
Theo bà, đây là lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế, an ninh lương thực, sinh kế của hàng chục triệu người dân và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nhưng đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu hút người học.
Giờ thực hành của sinh viên Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: NTCC


“Khoảng trống chính sách”

GS.TS Nguyễn Thị Lan cho biết vẫn còn “khoảng trống chính sách” đáng lưu ý đối với lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Thực tế cho thấy khu vực này đang thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng chưa được đặt đúng vị trí trong các ưu tiên chiến lược về đào tạo và sử dụng nhân lực.
Nhiều năm qua, hàng loạt ngành được coi là “xương sống” của nông nghiệp Việt Nam như: Khoa học đất, khoa học cây trồng, chăn nuôi, bảo vệ thực vật, kinh tế – kinh doanh nông nghiệp, phát triển nông thôn, khuyến nông, phòng chống thiên tai, thủy sản, lâm nghiệp… đều gặp khó khăn trong tuyển sinh.
Ngay cả những ngành then chốt trong chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại như: Công nghệ sau thu hoạch, kỹ thuật tài nguyên nước cũng không ngoại lệ. Trong khi đó, nhu cầu xã hội và doanh nghiệp đối với các ngành này rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi sang nông nghiệp xanh, nông nghiệp công nghệ cao và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ đặc thù nghề nghiệp vất vả, môi trường làm việc nhiều thách thức, thu nhập chưa tương xứng, trong khi các chính sách hỗ trợ, khuyến khích người học lựa chọn ngành nghề còn thiếu và chưa đủ mạnh. Điều này khiến các ngành nông nghiệp, dù có vai trò sống còn đối với phát triển bền vững của đất nước, vẫn chưa tạo được sức hút đối với người trẻ.
Dẫn kinh nghiệm quốc tế, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho hay nhiều quốc gia đã thành công trong việc thu hút nhân lực cho các lĩnh vực khó bằng những chính sách mang tính mục tiêu và dài hạn.
Các nước như Hàn Quốc, Singapore, Israel, Australia hay nhiều quốc gia thuộc Liên minh châu Âu đã triển khai hiệu quả các giải pháp như học bổng theo ngành ưu tiên, cam kết việc làm sau tốt nghiệp, đặt hàng đào tạo từ Nhà nước và doanh nghiệp, phụ cấp nghề nghiệp, cũng như tái định vị hình ảnh xã hội của ngành nghề. Khi có chính sách đủ mạnh và nhất quán, ngay cả những lĩnh vực vốn ít hấp dẫn cũng có thể thu hút đông đảo người học và đáp ứng tốt nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Trên cơ sở đó, GS.TS Nguyễn Thị Lan cho rằng cần triển khai các cơ chế ưu tiên cụ thể cho lĩnh vực nông nghiệp và các ngành thiết yếu. Trong đó, nên có học bổng mục tiêu theo ngành, tín dụng ưu đãi gắn với cam kết làm việc, cơ chế đặt hàng đào tạo từ Nhà nước và doanh nghiệp, đồng thời đầu tư mạnh mẽ cho hệ thống phòng thí nghiệm, mô hình thực hành và cơ sở nghiên cứu hiện đại. Việc tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng được xem là giải pháp then chốt, vừa nâng cao chất lượng đào tạo, vừa bảo đảm đầu ra và tạo niềm tin cho người học.
Bên cạnh các chính sách ưu đãi trực tiếp, đại biểu Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng cơ chế dự báo nhu cầu nhân lực quốc gia theo ngành và lĩnh vực. Hiện nay, quy mô đào tạo còn phụ thuộc nhiều vào tín hiệu thị trường mang tính tự phát, dẫn đến tình trạng lệch pha cung – cầu.
Có những ngành thu hút đông người học nhưng khả năng hấp thụ của thị trường lao động lại hạn chế, trong khi nhiều lĩnh vực thiết yếu liên quan đến an ninh lương thực, quản lý tài nguyên, phòng chống thiên tai và phát triển nông nghiệp bền vững lại thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực chất lượng cao.
Theo đại biểu, kinh nghiệm của Liên minh châu Âu, Hàn Quốc và Singapore cho thấy hệ thống dự báo nhân lực quốc gia theo ngành và nghề đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều chỉnh quy mô đào tạo, phân bổ nguồn lực và định hướng phát triển giáo dục – đào tạo.
Vì vậy, cần giao Chính phủ xây dựng và công bố định kỳ các dự báo nhân lực quốc gia, làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương và cơ sở đào tạo xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp, góp phần cân đối cung – cầu lao động và phục vụ hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
Sinh viên Trường Đại học Hùng Vương TPHCM trải nghiệm thực tế tại doanh nghiệp. Ảnh: Website nhà trường


Thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo trong tự chủ đại học

Nghị quyết số 71 tiếp tục khẳng định giáo dục là “quốc sách hàng đầu” và nhấn mạnh yêu cầu thiết lập các cơ chế “đặc thù, vượt trội” nhằm thúc đẩy phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới.
Trên cơ sở tầm nhìn chiến lược này, PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng hệ thống giáo dục đại học Việt Nam cần tiếp cận bằng những nhóm giải pháp trọng tâm, có cơ sở khoa học và thực tiễn, dựa trên phân tích kinh nghiệm quốc tế cũng như nhu cầu phát triển trong nước.
Một trong những trụ cột quan trọng được PGS.TS Trần Thành Nam nhấn mạnh là tài chính đại học. Theo ông, để thực hiện thành công tự chủ đại học và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu, cần đa dạng hóa nguồn lực tài chính. Bên cạnh việc tăng trích ngân sách Nhà nước cho giáo dục đại học, hướng tới mức 1,5–2% GDP, cần khuyến khích hình thành các quỹ tự chủ đại học đi kèm chính sách tài trợ minh bạch, ổn định và dài hạn.
Những quỹ này có thể được hình thành từ đóng góp của doanh nghiệp, cựu sinh viên thành đạt và các tổ chức xã hội, qua đó hỗ trợ học bổng, nghiên cứu khoa học và các hoạt động học thuật trọng điểm.
Theo PGS.TS Trần Thành Nam, kinh nghiệm quốc tế cho thấy hợp tác công - tư trong nghiên cứu và giáo dục là xu hướng tất yếu. Nhiều quốc gia đã triển khai thành công mô hình doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu, thậm chí chi trả lương cho giảng viên để cùng thực hiện các dự án chung.
Những mô hình này không chỉ gia tăng nguồn lực tài chính mà còn rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu hàn lâm và nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Tuy nhiên, tự chủ tài chính phải luôn đi đôi với trách nhiệm giải trình, công khai và minh bạch, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục đại học.
Bên cạnh tài chính, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo được xem là động lực then chốt để nâng tầm giáo dục đại học. PGS.TS Trần Thành Nam gợi mở cần tiếp tục đột phá các cơ chế khuyến khích công bố quốc tế và đăng ký sáng chế, gắn chặt với các chỉ tiêu khoa học – công nghệ mà Nghị quyết 71 đã đề ra. Việc tăng chỉ tiêu kinh phí nghiên cứu hằng năm cần được thực hiện song hành với cơ chế đánh giá kết quả đầu ra, nhằm tạo động lực thực chất cho đội ngũ giảng viên và nhà khoa học.
Ông cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh liên kết nghiên cứu công – tư, đồng thời đầu tư xây dựng hạ tầng nghiên cứu dùng chung như phòng thí nghiệm, cụm công nghệ và trung tâm nghiên cứu liên ngành để nhiều cơ sở giáo dục đại học cùng khai thác.
Kinh nghiệm từ Singapore và Trung Quốc cho thấy việc thành lập các trung tâm xuất sắc liên kết giữa đại học và doanh nghiệp theo các lĩnh vực ưu tiên quốc gia như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo… đã tạo ra những sản phẩm khoa học có giá trị ứng dụng cao, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế.
Một giải pháp đáng chú ý khác được PGS.TS Trần Thành Nam đề cập là chính sách “giảng viên đồng cơ hữu”. Theo đó, cần mở rộng cơ chế cho phép các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia giảng dạy kiêm nhiệm tại các trường đại học.
Đây là cách làm hiệu quả để bổ sung nguồn tri thức chất lượng cao, tăng cường mạng lưới nghiên cứu quốc tế và tạo môi trường học thuật đa dạng cho người học. Nếu triển khai đồng bộ, chính sách này sẽ giúp các trường đại học Việt Nam tiếp cận nhanh hơn với tri thức tiên tiến của thế giới.
Nhấn mạnh vai trò của Nghị định số 249/2025/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách thu hút và trọng dụng chuyên gia khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng đây là khung pháp lý nền tảng, tạo điều kiện quan trọng để thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, trong đó có đội ngũ giảng viên và nhà khoa học quốc tế tham gia vào hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Vấn đề đặt ra là cần triển khai Nghị định này một cách quyết liệt, đồng bộ, gắn với các chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp rõ ràng.
Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: NTCC


Tạo “đòn bẩy” giáo dục đại học

Nghị quyết số 71 xác định dành ít nhất 20% tổng chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục, đồng thời quy định nhiều chế độ ưu đãi lớn đối với đội ngũ nhà giáo. GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Viện trưởng Viện Công nghệ tiên tiến và Trí tuệ nhân tạo, Trường Đại học Hùng Vương TPHCM nêu quan điểm, việc tăng đầu tư cho giáo dục và nhà giáo không chỉ thể hiện sự quan tâm thiết thực của Đảng, mà còn là giải pháp cụ thể, mang tính quyết định để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển giáo dục đã được đề ra.
Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nguồn lực tài chính được bảo đảm sẽ tạo điều kiện quan trọng để hiện đại hóa nhà trường, khắc phục tình trạng chênh lệch về điều kiện dạy và học, hướng tới mục tiêu “trường ra trường, lớp ra lớp”.
Khi có đầu tư thỏa đáng, các cơ sở giáo dục sẽ được trang bị cơ sở vật chất và thiết bị hiện đại, nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, đồng thời thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong nhà trường, gắn chặt hơn với doanh nghiệp và nhu cầu thực tiễn.
Ngoài ra, các giải pháp tài chính mà Nghị quyết 71 đề ra chính là “đòn bẩy” quan trọng, tác động trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học, từ đó đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế của hệ thống giáo dục Việt Nam.
Đặc biệt, khi được triển khai đồng bộ với Nghị quyết 57, Nghị quyết 71 sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho việc xây dựng các mô hình đại học mới như đại học đổi mới sáng tạo, đại học công nghệ thế hệ mới, đóng vai trò nòng cốt và “đầu tàu” dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Đây là những bước đi quan trọng, đáp ứng kỳ vọng của xã hội đối với một nền giáo dục hiện đại, tiên tiến và bền vững.
Tại Lễ kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2025 và Đại hội Thi đua yêu nước ngành Giáo dục lần thứ VIII, Chủ tịch nước Lương Cường đã nêu tám nhiệm vụ trọng tâm, trong đó nhấn mạnh yêu cầu hiện đại hóa và nâng tầm giáo dục đại học nhằm tạo đột phá trong phát triển nguồn nhân lực trình độ cao và nhân tài, đồng thời đóng vai trò dẫn dắt nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.
Cùng với đó, cần tăng cường đầu tư hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật, mở rộng không gian phát triển để các trường đại học hoạt động hiệu quả; đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế; đồng thời gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, qua đó nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam.
Theo PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), chỉ khi các nhóm giải pháp về tài chính, nghiên cứu – đổi mới sáng tạo và phát triển đội ngũ được triển khai một cách nhất quán, giáo dục đại học Việt Nam mới có thể tận dụng hiệu quả cơ hội từ Nghị quyết 71, tạo bước chuyển thực chất về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Chia sẻ
đầu tư giáo dục đại họcchính sách về tài chínhkhoa học công nghệđổi mới sáng tạo
Theo Hải Minh
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/01/21 07:22 (GMT+7)

Xem thêm Trao đổi - kết nối

Đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng Anh trong kỷ nguyên AI
Trao đổi - kết nối

Đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng Anh trong kỷ nguyên AI

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Trao đổi - kết nối

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Từ coi trọng người giỏi đến kiến tạo môi trường để nhân tài tạo ra giá trị
Trao đổi - kết nối

Từ coi trọng người giỏi đến kiến tạo môi trường để nhân tài tạo ra giá trị

Phát triển năng lực sáng tạo cho giáo viên mầm non thời chuyển đổi số AI
Trao đổi - kết nối

Phát triển năng lực sáng tạo cho giáo viên mầm non thời chuyển đổi số AI

Nâng cao chất lượng giáo dục từ sự tiến bộ của từng học sinh
Trao đổi - kết nối

Nâng cao chất lượng giáo dục từ sự tiến bộ của từng học sinh

Linh hoạt triển khai Giáo dục địa phương với 6 phân môn
Trao đổi - kết nối

Linh hoạt triển khai Giáo dục địa phương với 6 phân môn

Mới nhất

2026-10-17 10:09

Tăng cường bảo vệ học sinh từ trường học đến cộng đồng

GD&TĐ - Hưng Yên tăng cường bảo đảm an toàn trường học, đẩy mạnh phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong phòng, chống xâm hại học sinh.

Tăng cường bảo vệ học sinh từ trường học đến cộng đồng
2026-10-17 10:09

Để AI thực sự trở thành trợ lý học tập

GD&TĐ - Trường học TPHCM đẩy mạnh ứng dụng AI, giúp giáo viên đổi mới phương pháp, hỗ trợ học sinh học tập chủ động, hiệu quả và an toàn hơn.

Để AI thực sự trở thành trợ lý học tập
2026-10-17 10:08

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa

GD&TĐ - Sở GD&ĐT Bắc Ninh vừa phát động phong trào “Trang sách hồng” nhằm tái sử dụng sách giáo khoa, hỗ trợ học sinh khó khăn và hạn chế lãng phí.

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa
2026-10-17 10:07

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề

GD&TĐ - Việc kiến tạo không gian kết nối, trải nghiệm thực tiễn và khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng vươn lên cho sinh viên là rất quan trọng.

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề
2026-10-17 10:07

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026

GD&TĐ - Cả 4 học sinh Việt Nam tham dự Olympic Vật lí quốc tế Al-Fergani 2026 đều đoạt huy chương, gồm 1 Vàng, 2 Bạc và 1 Đồng.

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026
2026-10-17 10:07

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026

GD&TĐ - Chương trình EDTECH VIETNAM – SEI Awards 2026 hướng đến tôn vinh sáng kiến, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong giáo dục.

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026
2026-10-17 10:06

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục

GD&TĐ - Triển lãm VIETEDU HANOI 2026 diễn ra tại Hà Nội, giới thiệu các giải pháp công nghệ phục vụ dạy học và quản lý giáo dục.

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục
2026-10-17 10:06

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập

GD&TĐ - Sáng 17/10, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm 75 năm thành lập (1951–2026).

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập
2026-10-17 10:05

Ủy ban Văn hóa và Xã hội làm việc với Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

GD&TĐ - Chiều 15/10, Đoàn công tác Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội làm việc với Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương về định hướng phát triển.

Ủy ban Văn hóa và Xã hội làm việc với Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
2026-10-17 10:05

Những phát hiện khảo cổ mới làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam

GD&TĐ - Hội thảo khảo cổ học lần thứ 61 công bố 396 nghiên cứu, bổ sung tư liệu về lịch sử, văn hóa Việt Nam qua nhiều thời kỳ.

Những phát hiện khảo cổ mới làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam