Từ lúng túng đến thấu hiểu: Hành trình đồng hành cùng trẻ của cô giáo
2026/01/06 10:53
GD&TĐ - Từ một học sinh nhút nhát, gần như không giao tiếp trong những ngày đầu đến lớp, bé Minh dần hòa nhập nhờ sự điều chỉnh phương pháp của giáo viên và sự hỗ trợ từ nhà trường.
Đầu năm học mới, tại lớp mẫu giáo ghép từ 3 - 5 tuổi của Trường Mẫu giáo Vành Khuyên (xã Ia Boòng, tỉnh Gia Lai), cô bé Thu Minh (tên nhân vật đã được thay đổi), 5 tuổi, lần đầu được mẹ đưa đến lớp. Ngày đầu tiên ấy bắt đầu bằng những giọt nước mắt. Minh nắm chặt tay mẹ không rời. Mỗi khi mẹ bước đi, em lại chạy theo, òa khóc nức nở.
Khi cô giáo bế Minh vào lớp, đôi mắt tròn xoe long lanh của em nhìn quanh căn phòng đầy sắc màu. Tiếng nhạc vang lên từ chiếc loa nhỏ. Những bạn nhỏ ríu rít trò chuyện, cười đùa. Nhưng với Minh, tất cả đều xa lạ: cô giáo nói tiếng Việt; các bạn nhỏ nói tiếng Việt; còn em chỉ ngồi lặng im cúi đầu, hai bàn tay siết chặt vào vạt áo.
Trong những ngày đầu, Minh gần như không tham gia bất kỳ hoạt động nào. Khi cô gọi tên, em không đáp, chỉ khẽ cúi mặt. Khi các bạn chơi cùng nhau, em ngồi tách ra một góc. Sự im lặng ấy không phải vì em không muốn nói, mà vì em chưa biết làm thế nào để bước vào thế giới đang diễn ra xung quanh mình.
Cô Thủy, giáo viên chủ nhiệm lớp, đã quen với những lớp học có trẻ em dân tộc thiểu số. Trước đây, với những trường hợp như Minh, cô thường bế dỗ dành một lúc, rồi để các em ngồi yên trong lớp và tiếp tục tổ chức hoạt động chung. Cô nhận rarằng mình thường dành sự chú ý nhiều hơn cho những trẻ nhanh nhẹn, tích cực và ít khi quan sát bao quát lớp học. Với trẻ còn chưa nói được tiếng Việt, cô thường cho nhắc lại từ tiếng Việt nhiều lần với mong muốn con sớm theo kịp các bạn.
Không gian lớp học khi ấy cũng chưa thực sự thuộc về trẻ. Đồ dùng, đồ chơi được đặt cao hơn tầm với. Các góc học tập mang tính trưng bày nhiều hơn là trải nghiệm. Trên kệ là những món đồ cô làm sẵn, các con ít có cơ hội tự tay tạo ra sản phẩm của mình. Vì thế, việc tham gia trở nên hời hợt, trẻ nhanh chán; và với những bạn nhỏ rụt rè như Minh, lớp học càng trở nên xa cách.
Sự thay đổi bắt đầu kể từ khi cô Thủy được tham gia các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn trong khuôn khổ dự án “Giáo viên mầm non áp dụng các kiến thức và kỹ năng giảng dạy tạo môi trường học tập giàu ngôn ngữ cho trẻ” (viết tắt là TALK), với sự hỗ trợ và khuyến khích từ cán bộ quản lý nhà trường. Thông qua các buổi tập huấn, cô được tiếp cận những cách nhìn mới về giáo dục mầm non, đặc biệt là việc xây dựng môi trường học tập thân thiện, giàu tương tác và tôn trọng ngôn ngữ, văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số.
Cùng với đó, cán bộ quản lý động viên cô mạnh dạn điều chỉnh phương pháp, tăng cường quan sát trẻ, sử dụng sơ đồ tư duy, vật liệu mở và các hình thức tổ chức hoạt động linh hoạt hơn. Những gợi mở ấy khiến cô Thủy chậm lại để nhìn lớp học của mình kỹ hơn, đặc biệt là nhìn lại những biểu hiện lặng lẽ của bé Minh.
Cô hiểu rằng, trước khi mong trẻ nói được tiếng Việt, điều quan trọng nhất là để con cảm thấy an toàn. Cô sắp xếp lại lớp học, đưa đồ chơi xuống ngang tầm tay các con. Những vật dụng trưng bày được thay thế bằng nguyên vật liệu quen thuộc như lá dừa, lá chuối, quả bầu khô, rơm khô,... Bên cạnh đó là các thẻ chữ song ngữ Jrai - Kinh, để hỗ trợ trẻ học tập mà không tách rời ngôn ngữ mẹ đẻ.
Nhờ đó không khí của lớp học bắt đầu thay đổi. Trẻ có cơ hội tự tay làm những món đồ chơi giản dị như đồng hồ từ lá dừa, kèn từ lá chuối hay chiếc mũ xinh xắn từ lá mít. Dần dần, lớp học xuất hiện những món đồ chơi dân gian quen thuộc được tạo nên từ chính đôi tay non nớt của các em. Khi sản phẩm của mình được xuất hiện trên góc lớp, các em vừa vui mừng vừa tự hào về những gì mình đã tạo ra. Đặc biệt với Minh, đó là lần đầu tiên em thấy sự hiện diện của chính mình trong lớp học.
Sản phẩm học tập do trẻ tự làm giúp các em thêm hứng thú và tự tin khi tham gia hoạt động.
Trong các hoạt động hằng ngày, cô Thủy không còn ép trẻ phải nói tiếng Việt. Khi trẻ dùng tiếng mẹ đẻ, cô chú tâm lắng nghe, rồi diễn đạt lại bằng tiếng Việt, kết hợp cử chỉ và hành động nhằm giúp các em dễ tiếp thu. Ngôn ngữ vì thế trở nên nhẹ nhàng, không còn là rào cản. Với Minh, việc được nói bằng ngôn ngữ quen thuộc giúp em vơi đi nỗi sợ và dần mở lòng hơn.
Cô Thủy sắp xếp Minh ngồi cạnh một bạn có khả năng ngôn ngữ tốt để hỗ trợ. Trong những ngày đầu, Minh chỉ mím môi im lặng. Nhưng sau vài lần cùng chơi, em bắt đầu nhìn sang bạn, khẽ gật đầu, rồi dè dặt đáp lại. Cô kiên trì quan sát, động viên, và chờ đợi những thay đổi rất nhỏ từ em.
Từ sự kiên trì của cô Thủy, bé Minh dần tự tin hơn và bắt đầu cất tiếng nói trong lớp học.
Sau một thời gian, Minh có những thay đổi tích cực. Em không còn khóc khi mẹ rời đi, bắt đầu tham gia các hoạt động cùng bạn bè, lắng nghe, trả lời bằng những câu ngắn với nụ cười xuất hiện ngày một nhiều hơn. Mỗi lần Minh cất tiếng nói, em nhận được lời khen và ánh mắt khích lệ từ cô Thủy. Chính sự ghi nhận ấy đã góp phần bồi đắp sự tự tin trong em, giúp em mạnh dạn hơn mỗi ngày. Không chỉ Minh thay đổi, không khí lớp học cũng trở nên cởi mở và thân thiện hơn. Trẻ chủ động tham gia hoạt động, mạnh dạn chia sẻ và hợp tác với nhau. Với cô Thủy, hành trình đồng hành cùng bé Minh giúp cô nhận ra giá trị của việc lắng nghe, kiên trì và tôn trọng nhịp phát triển riêng của từng đứa trẻ.
Cô Thuỷ (đứng ngoài cùng) trình bày các thay đổi trong lớp học tại hội thảo tổng kết dự án TALK năm 2025.
Với trẻ em dân tộc thiểu số, rào cản lớn nhất không chỉ là ngôn ngữ, mà còn là cảm giác an toàn trong môi trường học tập. Khi giáo viên được hỗ trợ nâng cao năng lực, được tin tưởng và đồng hành bởi nhà trường, sự thay đổi tích cực có thể bắt đầu từ những điều rất nhỏ. Và từ đó, một đứa trẻ từng sợ hãi, lặng im, có thể dần hòa nhập và tìm thấy tiếng nói của mình trong lớp học.
Trong những ngày đầu đến lớp, bé Minh gần như không giao tiếp và ít tham gia các hoạt động chung.
Đầu năm học mới, tại lớp mẫu giáo ghép từ 3 - 5 tuổi của Trường Mẫu giáo Vành Khuyên (xã Ia Boòng, tỉnh Gia Lai), cô bé Thu Minh (tên nhân vật đã được thay đổi), 5 tuổi, lần đầu được mẹ đưa đến lớp. Ngày đầu tiên ấy bắt đầu bằng những giọt nước mắt. Minh nắm chặt tay mẹ không rời. Mỗi khi mẹ bước đi, em lại chạy theo, òa khóc nức nở.
Khi cô giáo bế Minh vào lớp, đôi mắt tròn xoe long lanh của em nhìn quanh căn phòng đầy sắc màu. Tiếng nhạc vang lên từ chiếc loa nhỏ. Những bạn nhỏ ríu rít trò chuyện, cười đùa. Nhưng với Minh, tất cả đều xa lạ: cô giáo nói tiếng Việt; các bạn nhỏ nói tiếng Việt; còn em chỉ ngồi lặng im cúi đầu, hai bàn tay siết chặt vào vạt áo.
Trong những ngày đầu, Minh gần như không tham gia bất kỳ hoạt động nào. Khi cô gọi tên, em không đáp, chỉ khẽ cúi mặt. Khi các bạn chơi cùng nhau, em ngồi tách ra một góc. Sự im lặng ấy không phải vì em không muốn nói, mà vì em chưa biết làm thế nào để bước vào thế giới đang diễn ra xung quanh mình.
Cô Thủy, giáo viên chủ nhiệm lớp, đã quen với những lớp học có trẻ em dân tộc thiểu số. Trước đây, với những trường hợp như Minh, cô thường bế dỗ dành một lúc, rồi để các em ngồi yên trong lớp và tiếp tục tổ chức hoạt động chung. Cô nhận rarằng mình thường dành sự chú ý nhiều hơn cho những trẻ nhanh nhẹn, tích cực và ít khi quan sát bao quát lớp học. Với trẻ còn chưa nói được tiếng Việt, cô thường cho nhắc lại từ tiếng Việt nhiều lần với mong muốn con sớm theo kịp các bạn.
Không gian lớp học khi ấy cũng chưa thực sự thuộc về trẻ. Đồ dùng, đồ chơi được đặt cao hơn tầm với. Các góc học tập mang tính trưng bày nhiều hơn là trải nghiệm. Trên kệ là những món đồ cô làm sẵn, các con ít có cơ hội tự tay tạo ra sản phẩm của mình. Vì thế, việc tham gia trở nên hời hợt, trẻ nhanh chán; và với những bạn nhỏ rụt rè như Minh, lớp học càng trở nên xa cách.
Sự thay đổi bắt đầu kể từ khi cô Thủy được tham gia các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn trong khuôn khổ dự án “Giáo viên mầm non áp dụng các kiến thức và kỹ năng giảng dạy tạo môi trường học tập giàu ngôn ngữ cho trẻ” (viết tắt là TALK), với sự hỗ trợ và khuyến khích từ cán bộ quản lý nhà trường. Thông qua các buổi tập huấn, cô được tiếp cận những cách nhìn mới về giáo dục mầm non, đặc biệt là việc xây dựng môi trường học tập thân thiện, giàu tương tác và tôn trọng ngôn ngữ, văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số.
Cùng với đó, cán bộ quản lý động viên cô mạnh dạn điều chỉnh phương pháp, tăng cường quan sát trẻ, sử dụng sơ đồ tư duy, vật liệu mở và các hình thức tổ chức hoạt động linh hoạt hơn. Những gợi mở ấy khiến cô Thủy chậm lại để nhìn lớp học của mình kỹ hơn, đặc biệt là nhìn lại những biểu hiện lặng lẽ của bé Minh.
Cô hiểu rằng, trước khi mong trẻ nói được tiếng Việt, điều quan trọng nhất là để con cảm thấy an toàn. Cô sắp xếp lại lớp học, đưa đồ chơi xuống ngang tầm tay các con. Những vật dụng trưng bày được thay thế bằng nguyên vật liệu quen thuộc như lá dừa, lá chuối, quả bầu khô, rơm khô,... Bên cạnh đó là các thẻ chữ song ngữ Jrai - Kinh, để hỗ trợ trẻ học tập mà không tách rời ngôn ngữ mẹ đẻ.
Nhờ đó không khí của lớp học bắt đầu thay đổi. Trẻ có cơ hội tự tay làm những món đồ chơi giản dị như đồng hồ từ lá dừa, kèn từ lá chuối hay chiếc mũ xinh xắn từ lá mít. Dần dần, lớp học xuất hiện những món đồ chơi dân gian quen thuộc được tạo nên từ chính đôi tay non nớt của các em. Khi sản phẩm của mình được xuất hiện trên góc lớp, các em vừa vui mừng vừa tự hào về những gì mình đã tạo ra. Đặc biệt với Minh, đó là lần đầu tiên em thấy sự hiện diện của chính mình trong lớp học.
Sản phẩm học tập do trẻ tự làm giúp các em thêm hứng thú và tự tin khi tham gia hoạt động.
Trong các hoạt động hằng ngày, cô Thủy không còn ép trẻ phải nói tiếng Việt. Khi trẻ dùng tiếng mẹ đẻ, cô chú tâm lắng nghe, rồi diễn đạt lại bằng tiếng Việt, kết hợp cử chỉ và hành động nhằm giúp các em dễ tiếp thu. Ngôn ngữ vì thế trở nên nhẹ nhàng, không còn là rào cản. Với Minh, việc được nói bằng ngôn ngữ quen thuộc giúp em vơi đi nỗi sợ và dần mở lòng hơn.
Cô Thủy sắp xếp Minh ngồi cạnh một bạn có khả năng ngôn ngữ tốt để hỗ trợ. Trong những ngày đầu, Minh chỉ mím môi im lặng. Nhưng sau vài lần cùng chơi, em bắt đầu nhìn sang bạn, khẽ gật đầu, rồi dè dặt đáp lại. Cô kiên trì quan sát, động viên, và chờ đợi những thay đổi rất nhỏ từ em.
Từ sự kiên trì của cô Thủy, bé Minh dần tự tin hơn và bắt đầu cất tiếng nói trong lớp học.
Sau một thời gian, Minh có những thay đổi tích cực. Em không còn khóc khi mẹ rời đi, bắt đầu tham gia các hoạt động cùng bạn bè, lắng nghe, trả lời bằng những câu ngắn với nụ cười xuất hiện ngày một nhiều hơn. Mỗi lần Minh cất tiếng nói, em nhận được lời khen và ánh mắt khích lệ từ cô Thủy. Chính sự ghi nhận ấy đã góp phần bồi đắp sự tự tin trong em, giúp em mạnh dạn hơn mỗi ngày. Không chỉ Minh thay đổi, không khí lớp học cũng trở nên cởi mở và thân thiện hơn. Trẻ chủ động tham gia hoạt động, mạnh dạn chia sẻ và hợp tác với nhau. Với cô Thủy, hành trình đồng hành cùng bé Minh giúp cô nhận ra giá trị của việc lắng nghe, kiên trì và tôn trọng nhịp phát triển riêng của từng đứa trẻ.
Cô Thuỷ (đứng ngoài cùng) trình bày các thay đổi trong lớp học tại hội thảo tổng kết dự án TALK năm 2025.
Với trẻ em dân tộc thiểu số, rào cản lớn nhất không chỉ là ngôn ngữ, mà còn là cảm giác an toàn trong môi trường học tập. Khi giáo viên được hỗ trợ nâng cao năng lực, được tin tưởng và đồng hành bởi nhà trường, sự thay đổi tích cực có thể bắt đầu từ những điều rất nhỏ. Và từ đó, một đứa trẻ từng sợ hãi, lặng im, có thể dần hòa nhập và tìm thấy tiếng nói của mình trong lớp học.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Xây dựng Đại học Bách khoa Hà Nội trở thành đại học nghiên cứu xuất sắc
GD&TĐ - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh xây dựng Đại học Bách khoa Hà Nội trở thành đại học nghiên cứu xuất sắc, đảm nhận nhiệm vụ lớn của quốc gia.
2026-10-15 09:02
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đại học Bách khoa Hà Nội
GD&TĐ - Sáng 15/10, Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức Lễ mít tinh kỷ niệm 70 năm thành lập (15/10/1956 - 15/10/2026) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất.
2026-10-15 09:01
Trường Cao đẳng Sơn La chú trọng đào tạo ngành công nghệ thông tin
GD&TĐ - Trường Cao đẳng Sơn La tập trung phát triển ngành công nghệ thông tin, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
2026-10-15 08:51
Giảng viên RMIT trực tiếp giảng dạy chương trình AI cho sinh viên DTTS
GD&TĐ - Ngày 17/10 tới đây, tại Trường Đại học Đà Lạt, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Lễ khai giảng Chương trình nâng cao năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cho người học dân tộc thiểu số.
2026-10-15 08:50
Nâng cao chất lượng giáo dục từ đổi mới dạy học ngoại ngữ và AI
GD&TĐ - Trường Tiểu học Thành Công phát huy năng lực đội ngũ, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí AI và ngoại ngữ, nâng cao chất lượng giáo dục.
2026-10-15 08:49
Trường nghề đổi mới phương pháp đào tạo, đáp ứng thị trường lao động
GD&TĐ - Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Sơn La đổi mới phương pháp đào tạo, để phù hợp với yêu cầu thị trường lao động, nâng cao nguồn nhân lực.
2026-10-15 08:49
Đưa cơ hội việc làm đến gần người lao động ở cơ sở
GD&TĐ - Các phiên giao dịch việc làm ở Phú Thọ, Tuyên Quang giúp người lao động tiếp cận thông tin tuyển dụng, học nghề và lựa chọn công việc phù hợp.
2026-10-15 08:48
Ứng dụng AI trong giáo dục, lớp học sôi nổi hơn chưa chắc học sinh 'học tốt hơn'
GD&TĐ - Công nghệ thực sự tạo ra giá trị khi được tích hợp vào thiết kế học tập, có sự tham gia của giáo viên, được đánh giá bằng những thay đổi thực chất.
2026-10-15 08:48
Sơn La nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non
GD&TĐ - Trường Cao đẳng Sơn La chú trọng đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non, đáp ứng nhu cầu nhân lực ngành giáo dục.
2026-10-15 08:47
Tài liệu giáo dục mầm non được Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thẩm định
GD&TĐ -Mới đây, hai bộ tài liệu giáo dục mầm non do Tổ chức VVOB phát triển đã được ĐH Sư Phạm Hà Nội công nhận đủ chuẩn sử dụng, góp phần nâng cao năng lực cho giáo viên và cán bộ quản lý toàn quốc.