GD&TĐ - Những con đường mới, lớp học và chính sách hỗ trợ đang góp phần đưa trẻ em người Mông ở Bản Tèn đến trường đều đặn, mở ra thêm cơ hội cho tương lai.
Khi con đường đến lớp bớt nhọc nhằn
Bản Tèn (Văn Lăng, Thái Nguyên) hiện có 151 hộ với khoảng 750 nhân khẩu, 100% là đồng bào Mông. Hơn một thập kỷ trước, đường vào bản chủ yếu là những lối đất dốc, việc đi lại của người dân đã khó, với giáo viên và học sinh lại càng nhiều trở ngại. Với những đứa trẻ người Mông nơi đây, đến trường từng là một hành trình nhiều nhọc nhằn khi phải vượt qua những đoạn đường núi để đến lớp.
Một trong những thay đổi có ý nghĩa với cuộc sống nơi đây là sự cải thiện về giao thông và điện lưới. Cuối năm 2014, tuyến đường bê tông dài hơn 5km nối từ cầu treo Vân Khánh lên Bản Tèn được khởi công với kinh phí gần 38 tỷ đồng. Tháng 8/2016, dự án cấp điện cho các hộ nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa được triển khai, đưa điện lưới quốc gia về bản.
Con đường được mở, điện về bản, những khoảng cách từng khiến việc đi học trở nên khó khăn cũng dần được thu hẹp. Học sinh có điều kiện đến lớp an toàn hơn, còn giáo viên thuận lợi hơn trong hành trình gắn bó với điểm trường vùng cao.
Tại điểm trường Bản Tèn thuộc Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học số 2 Văn Lăng, năm học 2026-2027 có 94 học sinh, đều là con em đồng bào Mông. Trong ngày khai giảng, 92 em có mặt hân hoan chào đón năm học mới.
Theo giáo viên tại điểm trường, những năm gần đây, tình trạng học sinh phải nghỉ học để phụ giúp gia đình gần như không còn tồn tại.
Thầy Hoàng Thế Hùng, người có 15 năm công tác tại điểm trường Bản Tèn, cho biết những học sinh có nhà cách trường trên 2,5km, ở khu vực đi lại khó khăn được học tại trường bán trú trung tâm, được bảo đảm điều kiện ăn, ở và sinh hoạt. Nhờ đó, khoảng cách từ nhà đến trường không còn là trở ngại quá lớn đối với việc học của các em, đồng thời giảm bớt áp lực cho gia đình.
Dẫu vậy, phía sau sự ổn định ấy vẫn còn những khó khăn cần được tháo gỡ. Gần 50% học sinh tại điểm trường thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo. Với nhiều gia đình, việc chăm lo cho con đến trường vẫn là một bài toán không dễ dàng.
Một trở ngại khác đến từ chính ngôn ngữ. 100% học sinh tại điểm trường là người Mông, nhiều em trước khi đến lớp chủ yếu giao tiếp bằng tiếng Mông và ít có môi trường sử dụng tiếng Việt. Bởi vậy, những ngày đầu đến trường, việc làm quen với tiếng Việt cũng là một phần quan trọng trong hành trình học tập.
Sau nhiều năm, điều được ghi nhận rõ nhất là việc học của học sinh ngày càng ổn định. Khi đường sá thuận lợi hơn, điều kiện sinh hoạt được cải thiện và những chính sách hỗ trợ đến gần hơn với học sinh, việc đến trường của các em cũng bớt đi những nỗi lo trước đây.
Gieo con chữ, mở thêm những lựa chọn
Ở vùng cao, để một đứa trẻ đến được lớp đã cần nhiều nỗ lực; để em có thể học tập và tiến bộ lại là một hành trình dài hơn. Với học sinh Bản Tèn, hành trình ấy bắt đầu từ những điều tưởng như rất căn bản: làm quen với tiếng Việt, biết đọc, biết viết và từng bước tự tin giao tiếp.
Lớp học được đầu tư, trang bị cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại phục vụ cho việc dạy và học tại điểm trường Bản Tèn.
Đặc thù của học sinh dân tộc Mông, điều kiện kinh tế còn khó khăn và môi trường sử dụng tiếng Việt hạn chế khiến công việc của giáo viên nơi đây không chỉ dừng ở việc truyền đạt kiến thức theo chương trình. Mỗi bài học còn là một bước giúp học sinh mở rộng vốn ngôn ngữ, hiểu thêm về thế giới bên ngoài lớp học và hình thành những kỹ năng cần thiết cho quá trình học tập lâu dài.
Với những học sinh ở xa, chính sách hỗ trợ bán trú tiếp tục trở thành một phần quan trọng giúp các em duy trì việc học. Cùng với những đổi thay về điều kiện học tập, nhận thức của gia đình về việc học cũng dần chuyển biến. “Cái chữ” không chỉ được nhìn như một yêu cầu của nhà trường, mà còn được gửi gắm vào đó kỳ vọng về một tương lai có thêm lựa chọn cho thế hệ trẻ.
Đó cũng là ý nghĩa sâu xa của việc giữ trẻ em vùng cao ở lại trường. Một năm học có thể bắt đầu từ những bài học đầu tiên về con chữ, nhưng phía sau những con chữ ấy là cơ hội để các em tiếp tục học tập, học nghề và tìm kiếm những hướng đi phù hợp hơn trong tương lai, thay vì chỉ phụ thuộc vào công việc nương rẫy.
Câu chuyện ở Bản Tèn cho thấy, để giáo dục thực sự trở thành nền tảng cho giảm nghèo bền vững, cần một quá trình đầu tư đồng bộ: Là con đường thuận lợi hơn đưa học sinh đến trường, là chính sách bán trú giúp những em ở xa có điều kiện học tập ổn định, là còn những người thầy bám bản từng ngày kiên trì tháo gỡ rào cản ngôn ngữ, giữ nhịp học tập cho học sinh.
Những ánh mắt trong veo, những nụ cười tươi sáng, thắp lên hi vọng về tương lai của những học sinh Bản Tèn.
Năm học mới đã bắt đầu ở Bản Tèn với 94 học sinh. Con đường đến lớp hôm nay đã bớt nhọc nhằn hơn, nhưng hành trình gieo chữ vẫn cần sự bền bỉ của thầy cô, sự đồng hành của gia đình và những chính sách phù hợp.
Từ một nơi từng được nhắc đến với “5 không”, Bản Tèn đang từng bước thay đổi. Và trong hành trình ấy, những lớp học vùng cao không chỉ mang đến cho trẻ em nơi đây kiến thức, mà còn gieo thêm niềm tin để các em có thể nhìn xa hơn khỏi triền núi quê mình, mở ra nhiều cơ hội cho tương lai.
Ở độ cao hơn 1.200m, Bản Tèn, xã Văn Lăng, tỉnh Thái Nguyên từng là địa bàn đặc biệt khó khăn với “5 không”: không điện, không đường, không trường, không trạm và không nước sạch.
Khi con đường đến lớp bớt nhọc nhằn
Bản Tèn (Văn Lăng, Thái Nguyên) hiện có 151 hộ với khoảng 750 nhân khẩu, 100% là đồng bào Mông. Hơn một thập kỷ trước, đường vào bản chủ yếu là những lối đất dốc, việc đi lại của người dân đã khó, với giáo viên và học sinh lại càng nhiều trở ngại. Với những đứa trẻ người Mông nơi đây, đến trường từng là một hành trình nhiều nhọc nhằn khi phải vượt qua những đoạn đường núi để đến lớp.
Một trong những thay đổi có ý nghĩa với cuộc sống nơi đây là sự cải thiện về giao thông và điện lưới. Cuối năm 2014, tuyến đường bê tông dài hơn 5km nối từ cầu treo Vân Khánh lên Bản Tèn được khởi công với kinh phí gần 38 tỷ đồng. Tháng 8/2016, dự án cấp điện cho các hộ nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa được triển khai, đưa điện lưới quốc gia về bản.
Con đường được mở, điện về bản, những khoảng cách từng khiến việc đi học trở nên khó khăn cũng dần được thu hẹp. Học sinh có điều kiện đến lớp an toàn hơn, còn giáo viên thuận lợi hơn trong hành trình gắn bó với điểm trường vùng cao.
Tại điểm trường Bản Tèn thuộc Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học số 2 Văn Lăng, năm học 2026-2027 có 94 học sinh, đều là con em đồng bào Mông. Trong ngày khai giảng, 92 em có mặt hân hoan chào đón năm học mới.
Theo giáo viên tại điểm trường, những năm gần đây, tình trạng học sinh phải nghỉ học để phụ giúp gia đình gần như không còn tồn tại.
Thầy Hoàng Thế Hùng, người có 15 năm công tác tại điểm trường Bản Tèn, cho biết những học sinh có nhà cách trường trên 2,5km, ở khu vực đi lại khó khăn được học tại trường bán trú trung tâm, được bảo đảm điều kiện ăn, ở và sinh hoạt. Nhờ đó, khoảng cách từ nhà đến trường không còn là trở ngại quá lớn đối với việc học của các em, đồng thời giảm bớt áp lực cho gia đình.
Dẫu vậy, phía sau sự ổn định ấy vẫn còn những khó khăn cần được tháo gỡ. Gần 50% học sinh tại điểm trường thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo. Với nhiều gia đình, việc chăm lo cho con đến trường vẫn là một bài toán không dễ dàng.
Một trở ngại khác đến từ chính ngôn ngữ. 100% học sinh tại điểm trường là người Mông, nhiều em trước khi đến lớp chủ yếu giao tiếp bằng tiếng Mông và ít có môi trường sử dụng tiếng Việt. Bởi vậy, những ngày đầu đến trường, việc làm quen với tiếng Việt cũng là một phần quan trọng trong hành trình học tập.
Sau nhiều năm, điều được ghi nhận rõ nhất là việc học của học sinh ngày càng ổn định. Khi đường sá thuận lợi hơn, điều kiện sinh hoạt được cải thiện và những chính sách hỗ trợ đến gần hơn với học sinh, việc đến trường của các em cũng bớt đi những nỗi lo trước đây.
Gieo con chữ, mở thêm những lựa chọn
Ở vùng cao, để một đứa trẻ đến được lớp đã cần nhiều nỗ lực; để em có thể học tập và tiến bộ lại là một hành trình dài hơn. Với học sinh Bản Tèn, hành trình ấy bắt đầu từ những điều tưởng như rất căn bản: làm quen với tiếng Việt, biết đọc, biết viết và từng bước tự tin giao tiếp.
Lớp học được đầu tư, trang bị cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại phục vụ cho việc dạy và học tại điểm trường Bản Tèn.
Đặc thù của học sinh dân tộc Mông, điều kiện kinh tế còn khó khăn và môi trường sử dụng tiếng Việt hạn chế khiến công việc của giáo viên nơi đây không chỉ dừng ở việc truyền đạt kiến thức theo chương trình. Mỗi bài học còn là một bước giúp học sinh mở rộng vốn ngôn ngữ, hiểu thêm về thế giới bên ngoài lớp học và hình thành những kỹ năng cần thiết cho quá trình học tập lâu dài.
Với những học sinh ở xa, chính sách hỗ trợ bán trú tiếp tục trở thành một phần quan trọng giúp các em duy trì việc học. Cùng với những đổi thay về điều kiện học tập, nhận thức của gia đình về việc học cũng dần chuyển biến. “Cái chữ” không chỉ được nhìn như một yêu cầu của nhà trường, mà còn được gửi gắm vào đó kỳ vọng về một tương lai có thêm lựa chọn cho thế hệ trẻ.
Đó cũng là ý nghĩa sâu xa của việc giữ trẻ em vùng cao ở lại trường. Một năm học có thể bắt đầu từ những bài học đầu tiên về con chữ, nhưng phía sau những con chữ ấy là cơ hội để các em tiếp tục học tập, học nghề và tìm kiếm những hướng đi phù hợp hơn trong tương lai, thay vì chỉ phụ thuộc vào công việc nương rẫy.
Câu chuyện ở Bản Tèn cho thấy, để giáo dục thực sự trở thành nền tảng cho giảm nghèo bền vững, cần một quá trình đầu tư đồng bộ: Là con đường thuận lợi hơn đưa học sinh đến trường, là chính sách bán trú giúp những em ở xa có điều kiện học tập ổn định, là còn những người thầy bám bản từng ngày kiên trì tháo gỡ rào cản ngôn ngữ, giữ nhịp học tập cho học sinh.
Những ánh mắt trong veo, những nụ cười tươi sáng, thắp lên hi vọng về tương lai của những học sinh Bản Tèn.
Năm học mới đã bắt đầu ở Bản Tèn với 94 học sinh. Con đường đến lớp hôm nay đã bớt nhọc nhằn hơn, nhưng hành trình gieo chữ vẫn cần sự bền bỉ của thầy cô, sự đồng hành của gia đình và những chính sách phù hợp.
Từ một nơi từng được nhắc đến với “5 không”, Bản Tèn đang từng bước thay đổi. Và trong hành trình ấy, những lớp học vùng cao không chỉ mang đến cho trẻ em nơi đây kiến thức, mà còn gieo thêm niềm tin để các em có thể nhìn xa hơn khỏi triền núi quê mình, mở ra nhiều cơ hội cho tương lai.
GD&TĐ - Năm học 2025-2026, Ninh Bình có 10.513 học sinh học nghề theo hình thức liên kết tại các trung tâm GDNN-GDTX, tạo thêm lựa chọn sau THCS.
2026-10-12 02:03
Sinh viên cả nước tranh tài tại Cuộc thi Tài năng trẻ Logistics Việt Nam 2026
GD&TĐ - Vòng Bán kết VYLT 2026 quy tụ 54 đội sinh viên toàn quốc, tạo cơ hội vận dụng kiến thức và giải quyết các bài toán thực tiễn ngành logistics.
2026-10-12 02:03
Đưa thông tin việc làm đến gần người lao động
GD&TĐ - Ninh Bình đẩy mạnh số hóa thông tin tuyển dụng, giúp người lao động tìm việc và kết nối đào tạo với nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp.
2026-10-12 02:02
Dấu ấn Hội giao lưu STEM Talent Cần Thơ 2026
GD&TĐ - Hội giao lưu STEM Talent Cần Thơ 2026 mang đến sân chơi công nghệ sôi nổi qua thử thách Robotics Challenge.
2026-10-11 07:29
Hà Nội tái hiện bản hùng ca 80 năm lực lượng vũ trang Thủ đô
GD&TĐ - Chương trình nghệ thuật: 80 năm - Vang mãi bản hùng ca Hà Nội tái hiện hành trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang Thủ đô.
2026-10-11 07:27
Nhiều nhà khoa học tại Việt Nam vào tốp 2% thế giới năm 2026
GD&TĐ - Nhóm nghiên cứu của Đại học Stanford (Hoa Kỳ) và Nhà xuất bản Elsevier công bố bảng xếp hạng các nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2026.
2026-10-11 07:27
89 đội học sinh tham gia Hội giao lưu STEM Talent Cần Thơ 2026
GD&TĐ - Hội giao lưu STEM Talent Cần Thơ 2026, nội dung Robotics Challenge diễn ra tại Trường ĐH Nam Cần Thơ, với sự tham gia của 172 HS thuộc 89 đội.
2026-10-11 07:26
TPHCM thúc đẩy phát triển hệ sinh thái công nghệ lượng tử
GD&TĐ - TPHCM cần thúc đẩy liên kết giữa cơ quan quản lý, viện - trường và doanh nghiệp để từng bước hình thành hệ sinh thái công nghệ lượng tử.
2026-10-11 07:26
Ứng dụng thực tế ảo và AI trong đào tạo nhân lực năng lượng
GD&TĐ - Trung tâm đào tạo công nghệ - ứng dụng thực tế ảo và trí tuệ nhân tạo trong năng lượng, góp phần đổi mới giảng dạy và nâng cao chất lượng đào tạo.
2026-10-11 07:26
Đồng hành cùng trò tìm hiểu nghề nghiệp trong thời đại công nghệ số
GD&TĐ - Cùng trò nhận diện, phân tích và định hướng nghề nghiệp trong thời đại AI là hoạt động hướng nghiệp thiết thực.