Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Học giả Vương Hồng Sển (giữa) tiếp các nhà báo nước ngoài tại Vân Đường Phủ. Ảnh: Tư liệu

Vương Hồng Sển: Cả đời 'chơi' để giữ hồn Việt

2026/01/17 10:43

GD&TĐ - Trong kho tàng văn hóa Việt Nam thế kỷ XX, cái tên Vương Hồng Sển (1902 - 1996) luôn được nhắc đến bằng sự trân trọng và ngưỡng mộ.

Học giả Vương Hồng Sển (giữa) tiếp các nhà báo nước ngoài tại Vân Đường Phủ. Ảnh: Tư liệu
Học giả Vương Hồng Sển (giữa) tiếp các nhà báo nước ngoài tại Vân Đường Phủ. Ảnh: Tư liệu

Ông không chỉ là một học giả uyên bác, một cây bút giàu duyên văn, mà còn là người giữ hồn cổ ngoạn Nam Bộ, suốt gần trọn một thế kỷ miệt mài sưu tầm, khảo cứu và lưu giữ những dấu vết quý giá của một miền đất “xưa và nay”.

Suốt đời gìn giữ quá khứ

Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử TPHCM, trong suốt cuộc đời, Vương Hồng Sển say mê tìm hiểu và sưu tập được hơn 800 cổ vật, trong đó nhiều nhất, độc đáo nhất là đồ gốm men xanh trắng thế kỷ 18-19. Các công trình nghiên cứu của ông được giới chuyên môn đánh giá cao. Ông đã góp phần đáng kể trong việc xác định niên đại một số loại hình đồ gốm và hướng dẫn kỹ năng ban đầu cho những người thích sưu tầm đồ cổ.

Vương Hồng Sển mang trong mình ba dòng máu Việt - Hoa - Khmer, sinh tại Sóc Trăng (nay thuộc TP Cần Thơ) trong một gia đình Minh Hương hiếu học. Tuổi thơ của ông gắn với những năm tháng miệt mài con chữ ở làng Khánh Hưng. Mới tám tuổi, cậu bé Sển đã cắp sách đến trường sơ học, rồi mười tám tuổi thi đậu bằng Tiểu học Pháp - Việt.

Năm 1919, ông lên Sài Gòn theo học tại trường Chasseloup Laubat (nay là Trường THPT Lê Quý Đôn). Năm 1923, ông thi đỗ Brevet Élémentaire và bằng Thành chung, mở ra hành trình làm việc trong bộ máy hành chính thuộc địa. Từ một thư ký trẻ tại Trường máy Đỗ Hữu Vị (nay là Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng), Vương Hồng Sển lần lượt trải qua nhiều vị trí: Tòa Bố Sa Đéc, Sở Địa bộ tỉnh Sóc Trăng, rồi trở lại Sài Gòn năm 1938, công tác tại Phòng Dân sự Dinh Thống đốc Nam Kỳ.

Cuối năm 1941, ông được biệt phái lên Đà Lạt, làm việc tại Dinh Toàn quyền Decoux với chức danh “Thơ ký hạng nhất”. Hai năm sau, ông xin đổi về quê nhà Sóc Trăng, tiếp tục công tác ở Tòa Bố cho đến khi về hưu, kết thúc sự nghiệp hành chính nhưng mở ra một hành trình khác - hành trình của nhà sưu tầm, người giữ ký ức Nam Bộ.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Vương Hồng Sển được tổ chức Thanh niên Tiền phong ở địa phương tín nhiệm, tiến cử giữ chức Phó tỉnh trưởng hành chánh tỉnh Sóc Trăng, một vị trí vừa mang trọng trách quản lý vừa phản ánh uy tín trí thức của ông trong xã hội thời bấy giờ. Đến khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, ông rời nhiệm sở; năm 1947, do bệnh nặng, ông lên Sài Gòn điều trị.

Từ đó, cuộc đời Vương Hồng Sển rẽ sang một hướng mới - con đường gắn liền với bảo tồn và nghiên cứu văn hóa. Năm 1949, ông bắt đầu làm việc với tư cách hợp đồng tại Viện Bảo tàng Sài Gòn, sau này trở thành Giám đốc Viện - nơi ông có điều kiện thỏa chí sưu tầm, ghi chép và kể lại những câu chuyện của quá khứ.

Từ năm 1963, ông về sống tại Gia Định, tiếp tục chuyên tâm viết, sưu tầm và giảng dạy. Ở tuổi xế chiều, Vương Hồng Sển vẫn miệt mài trên bục giảng của Đại học Văn khoa Sài Gòn và Huế, nơi ông chia sẻ những chuyên đề độc đáo về văn học miền Nam và cổ ngoạn học. Ở ông, người ta bắt gặp một học giả uyên bác nhưng gần gũi, vừa là nhà nghiên cứu sâu sắc, vừa là người kể chuyện duyên dáng, có thể khiến những cổ vật vô tri như bỗng cất lời kể chuyện đời.

Ông từng nói một cách khiêm nhường: “Tôi chỉ là người ham vui, mê cổ ngoạn và mê chữ nghĩa”. Nhưng di sản mà ông để lại thì không nhỏ bé chút nào. Khi qua đời năm 1996, Vương Hồng Sển hiến tặng toàn bộ gia sản - từ ngôi nhà cổ, tủ sách quý, đến hàng nghìn món đồ cổ vô giá cho Nhà nước, để hình thành Bảo tàng Vương Hồng Sển, một địa chỉ văn hóa độc đáo lưu giữ “hồn vía người chơi cổ Việt Nam”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng từng nhận định: “Vương Hồng Sển sống gần trọn thế kỷ 20, chứng kiến hầu hết những biến cố lớn của Nam Bộ. Có thể nói, ông là người am tường nhiều lĩnh vực liên hệ đến văn hóa Nam Bộ và là nhà cổ ngoạn độc nhất ở Việt Nam”. Quả thật, đời ông như một tấm gương phản chiếu ký ức văn hóa miền Nam suốt thế kỷ nhiều biến động. Giữa bao thay đổi của thời cuộc, Vương Hồng Sển vẫn lặng lẽ gìn giữ những giá trị cũ - thứ tài sản tinh thần quý hơn mọi món cổ ngoạn mà ông từng sưu tầm.

vuong-hong-sen-3.jpg
Nhà cổ Vân Đường Phủ của học giả Vương Hồng Sển tại TPHCM ngày nay. Ảnh: Lê Quân

Bữa tiệc chữ nghĩa của một người mê đời

Nếu phải chọn ra tác phẩm tiêu biểu nhất cho phong cách Vương Hồng Sển, hẳn nhiều người sẽ nhắc ngay đến hai cuốn sách trứ danh: “Sài Gòn năm xưa” (1962) và “Sài Gòn tạp pín lù” (1991) - những “đứa con tinh thần” mà ông xem là tâm đắc nhất trong buổi vãn niên.

Với con mắt của người đã sống, đã yêu và đã tiếc nuối Sài Gòn, ông Vương viết về thành phố này không phải như một sử gia khô khan, mà như một người kể chuyện thấm đẫm ân tình. Trong từng trang viết, Sài Gòn hiện ra vừa thực vừa mơ - có tiếng rao đêm, bóng áo dài tan học, có cả những nỗi bâng khuâng của một đô thị đang chuyển mình giữa cũ và mới.

“Sài Gòn năm xưa” là lời kể về nguồn gốc, địa thế và hình hài của thành phố, còn “Sài Gòn tạp pín lù” lại là một bức tranh tạp mosaic sống động, gom nhặt đủ mọi sắc màu đời sống, con người và phong vị xưa cũ.

Chính ông từng giải thích nhan đề độc đáo này bằng giọng hóm hỉnh: “Tạp pín lù, nếu dịch Hán Việt là ‘đả biên lô’, nghĩa là món ăn nấu chín bên lò lửa, như ăn sán lẩu… ‘Sài Gòn tạp pín lù’ nôm na là Sài Gòn thập cẩm, Sài Gòn tào lao, Sài Gòn ba lăng nhăng, ai muốn hiểu sao thì hiểu… Nhưng tôi sanh tại Sóc Trăng (Nam Kỳ), nên tập này danh gọi Sài Gòn tạp pín lù là vì vậy”.

Và quả thật, “Sài Gòn tạp pín lù” chính là một “món lẩu chữ nghĩa” độc đáo - nơi ông hòa quyện giữa khảo cứu và hồi ức, giữa tư liệu và cảm xúc. Ở đó, ông không chỉ kể về nếp sống phong lưu, mà còn tỉ mỉ ghi chép từng tiếng nói, phong tục, nhân vật, giai thoại nửa thật nửa hư của vùng đất Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Đọc Vương Hồng Sển là bước vào một thế giới mà mỗi câu chữ đều thấm mùi thời gian, mỗi trang sách như mở ra cả một không gian ký ức - nơi Sài Gòn không chỉ là thành phố, mà là một phần hồn Việt được ông nâng niu gìn giữ bằng tất cả tấm lòng.

Trong “Sài Gòn tạp pín lù”, mỗi trang viết là một lát cắt đời sống, nơi con người, câu chuyện và ký ức hòa quyện thành bức tranh sống động về Nam Bộ đầu thế kỷ XX. Ông Vương dành nhiều trang viết cho những “mỹ nhân vang bóng” của đất Sài Gòn, trong đó nổi bật nhất là cô Ba Trà (Trần Ngọc Trà) - người được ông tôn vinh là “Huê khôi số một Sài Gòn, khoảng 1920 - 1935”.

Với lối văn vừa trữ tình, vừa khảo cứu, cụ Vương phác họa hình ảnh cô Ba Trà như một biểu tượng của thời đại - đẹp kiêu sa mà lắm truân chuyên: “Cô Ba Trà, đệ nhất Huê khôi ở Nam Kỳ, một người đẹp sắc nước hương trời từng làm say mê biết bao công tử miền Nam. Họ bao quanh cô, tranh nhau vung tiền qua cửa sổ. Bao nhiêu tiền bạc, của cải cha mẹ để lại, các công tử ấy ăn xài, bao gái không tiếc”.

Những trang viết về cô Ba Trà, Tư Nhị, Sáu Ngọc Anh, Năm Pho hay Bảy Hột Điều… không chỉ là chuyện người đẹp và công tử, mà là chuyện của một thời phong lưu đã mất, nơi Sài Gòn vừa rực rỡ vừa mong manh, “ăn chơi mà vẫn thanh lịch”.

Giới nghiên cứu đánh giá “Sài Gòn tạp pín lù” không chỉ là tập tản văn hoài cổ, mà còn là một tư liệu quý về đời sống Nam Bộ đầu thế kỷ XX, nơi hiện lên cả không gian văn hóa với ngôn ngữ bình dân, cách nói “tào lao” mà giàu hình tượng, phóng khoáng mà vẫn thấm đẫm tình người.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng từng nhận xét: “Sài Gòn tuy không có quá khứ ‘nghìn năm văn vật’ như Hà Nội, Huế; nhưng nơi đây lại có những ‘nam thanh nữ tú’, nhứt là có một cái duyên ngầm tạo được những sợi dây tình cảm cắt không đứt bứt không rời”.

Vương Hồng Sển đã nắm bắt được cái duyên ấy bằng chữ. Ở “Sài Gòn tạp pín lù”, văn ông vừa có tính học giả, vừa có chất tài tử - vừa khảo cổ, vừa kể chuyện, vừa châm biếm, vừa bông đùa. Chính cái duyên Nam Bộ ấy khiến văn chương của cụ không bao giờ cũ; nó sống động như chính Sài Gòn mà cụ yêu thương suốt đời.

Bút pháp của Vương Hồng Sển là một thế giới riêng, không giống ai và khó có thể bắt chước. Ông viết như nói, viết như nhớ lại, giọng văn tự nhiên, thân mật, dung hòa giữa tiếng Nôm, tiếng Hán, tiếng Pháp và giọng Nam Bộ ngọt ngào. Tác phẩm của ông vì thế vừa bình dân, vừa bác học, vừa có duyên dân dã, vừa đậm chiều sâu học thuật.

Cụ Vương từng hóm hỉnh nói: “Tôi nhớ đâu viết đó, viết bằng máy chữ, không gọt giũa, nên có cái duyên tự nhiên”. Chính cái “duyên tự nhiên” ấy đã làm nên phong cách Vương Hồng Sển - một giọng văn mang hồn Nam Bộ, phóng khoáng mà sâu sắc, giản dị mà thấm đẫm tinh thần văn hóa.

Không chỉ là nhà văn, Vương Hồng Sển còn là một nhà khảo cứu ngôn ngữ hiếm có. Tác phẩm “Tự vị Tiếng Việt miền Nam” là một công trình đồ sộ và công phu, ghi lại hàng trăm từ ngữ đặc sản của vùng đất phương Nam - những tiếng nói dân dã, thân thuộc nhưng từng có nguy cơ mai một. Với cuốn sách này, ông không chỉ làm công việc của một nhà ngữ học, mà còn của một người gìn giữ ký ức văn hóa, bảo tồn “hơi thở của tiếng nói miền Nam” bằng cả tấm lòng yêu quê sâu nặng.

Trong ký ức của nhiều thế hệ, Vương Hồng Sển vẫn là “ông già kể chuyện Sài Gòn” - người kể chuyện quá khứ bằng giọng Nam Bộ mộc mạc, chân tình. Ông không chỉ sưu tầm đồ cổ, mà còn sưu tầm ký ức, lưu giữ giọng nói, nếp sống và tâm hồn của một miền đất từng vang bóng. Ở ông, người ta thấy hiện thân của một nền văn hóa Nam Bộ vừa phóng khoáng vừa tinh tế, nơi mỗi câu chữ, mỗi món cổ vật đều thấm đẫm tình người và hồn quê.

vuong-hong-sen-4.jpg
Phòng trưng bày cổ vật của Vương Hồng Sển tại Bảo tàng Lịch sử TPHCM. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử TPHCM

“Hơn nửa đời hư”

Nếu “Sài Gòn năm xưa” và “Sài Gòn tạp pín lù” cho thấy một Vương Hồng Sển say mê mảnh đất Sài Gòn cùng văn hóa Nam Bộ trù phú, thì “Hơn nửa đời hư” (1992) lại là một bức chân dung tự họa đầy nhân bản, nơi ông đối diện chính mình bằng giọng kể chân tình, hóm hỉnh mà sâu sắc.

Tác phẩm được hình thành từ những ghi chép, tài liệu mà học giả họ Vương “giữ gìn suốt chục năm dư mà không mất”, như chính lời ông viết. Trong đó, hành trình cuộc đời được tái hiện mộc mạc mà sống động: từ cậu bé gốc Minh Hương ở Sóc Trăng, đến viên chức hành chính thời Pháp thuộc, rồi trở thành nhà nghiên cứu, nhà sưu tập và nhà văn hóa tiêu biểu của một thế hệ “đã đi qua Sài Gòn cũ”.

Đọc “Hơn nửa đời hư”, người ta không chỉ thấy chân dung một trí thức Nam Bộ, mà còn bắt gặp những chuyển mình dữ dội của đất nước trong thế kỷ XX - những biến động in dấu lên từng nếp sống, từng nỗi niềm riêng.

“Đời tôi là một chữ Hư to tướng”, ông từng viết. Nhưng “hư” ở đây không phải là vô nghĩa, mà là sự tự trào, là thái độ sống khiêm nhường, buông xả theo tinh thần Nho - Phật hòa quyện. Dù sưu tầm hàng ngàn cổ vật quý - từ đồ sứ Trung Hoa, gốm Việt đến thư pháp, sách cổ - ông vẫn xem tất cả chỉ như “những người bạn tri âm”. Cái “hư” của Vương Hồng Sển là cái “không vướng”, để còn thong dong ngắm đời, giữ cho tâm và chữ được trong.

Trong mắt người đương thời, Vương Hồng Sển là biểu tượng của “người biết chơi” - không phải kẻ hưởng lạc, mà là người biết thưởng thức và trân trọng cái đẹp. Ông yêu cải lương, sành “cầm chầu”, am tường hội họa, văn chương, đặc biệt là cổ ngoạn.

Với ông, “chơi cổ” không chỉ là thú vui, mà là cách lưu giữ một phần linh hồn văn hóa Việt - thứ mà ông đã dành cả đời để nâng niu và kể lại bằng thứ văn chương đậm chất Nam Bộ, duyên dáng, nồng hậu và rất người.

Trong lễ sinh nhật 89 tuổi, một người tặng ông một bài hát nói, có thể tóm tắt được con người Vương Hồng Sển:

Giắt trong lưng sẵn một chữ tài,

Tiêu từ nẳm tới nay, tiêu hoài chưa thấy hết.

Lại còn tiếng là người lịch duyệt,

Biết cải lương, biết đồ cổ, biết nhà xẹt, biết cầm chầu

Biết như ông, biết vậy cũng nên cầu,

Đàn em muốn nhưng mà đâu có được!

Hiên Đạt Cổ ngậm ngùi thương

buổi trước.

Phủ Vân Đường thủ thỉ nhắc người sau,

Thú phong lưu ngày tháng vẫn

phong lưu

Chuyện tang hải mặc dù non tự tại

Đồng Nai đã từng, Phú Xuân cũng trải

Hơn nửa đời hư mà tính có gì hư!

Hỏi ông, ông chớ cười trừ.

Những câu hát ấy vừa hóm hỉnh, vừa chân thực, phản ánh đúng hình ảnh một cụ Vương vừa bác học vừa phong lưu, một người “biết chơi” theo đúng nghĩa Nam Bộ. Dù từng “tiêu” cả đời vào chữ nghĩa và đồ cổ, ông không để lại giàu sang, chỉ để lại một gia tài tinh thần khổng lồ - những trang viết về Sài Gòn, về văn hóa miền Nam, về cái “thú chơi” vừa tao nhã vừa trí tuệ.

Năm 2023, UBND TPHCM đã ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố cho ngôi nhà của ông (Vân Đường Phủ). Tuy nhiên, tính đến đầu năm 2025, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc thành lập bảo tàng vẫn chưa được hoàn thành.

Học giả Vương Hồng Sển (giữa) tiếp các nhà báo nước ngoài tại Vân Đường Phủ. Ảnh: Tư liệu
Học giả Vương Hồng Sển (giữa) tiếp các nhà báo nước ngoài tại Vân Đường Phủ. Ảnh: Tư liệu

Ông không chỉ là một học giả uyên bác, một cây bút giàu duyên văn, mà còn là người giữ hồn cổ ngoạn Nam Bộ, suốt gần trọn một thế kỷ miệt mài sưu tầm, khảo cứu và lưu giữ những dấu vết quý giá của một miền đất “xưa và nay”.

Suốt đời gìn giữ quá khứ

vuong-hong-sen-1.jpg
Nhà văn, nhà ngoạn cổ Vương Hồng Sển. Ảnh: NXB Trẻ

Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử TPHCM, trong suốt cuộc đời, Vương Hồng Sển say mê tìm hiểu và sưu tập được hơn 800 cổ vật, trong đó nhiều nhất, độc đáo nhất là đồ gốm men xanh trắng thế kỷ 18-19. Các công trình nghiên cứu của ông được giới chuyên môn đánh giá cao. Ông đã góp phần đáng kể trong việc xác định niên đại một số loại hình đồ gốm và hướng dẫn kỹ năng ban đầu cho những người thích sưu tầm đồ cổ.

Vương Hồng Sển mang trong mình ba dòng máu Việt - Hoa - Khmer, sinh tại Sóc Trăng (nay thuộc TP Cần Thơ) trong một gia đình Minh Hương hiếu học. Tuổi thơ của ông gắn với những năm tháng miệt mài con chữ ở làng Khánh Hưng. Mới tám tuổi, cậu bé Sển đã cắp sách đến trường sơ học, rồi mười tám tuổi thi đậu bằng Tiểu học Pháp - Việt.

Năm 1919, ông lên Sài Gòn theo học tại trường Chasseloup Laubat (nay là Trường THPT Lê Quý Đôn). Năm 1923, ông thi đỗ Brevet Élémentaire và bằng Thành chung, mở ra hành trình làm việc trong bộ máy hành chính thuộc địa. Từ một thư ký trẻ tại Trường máy Đỗ Hữu Vị (nay là Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng), Vương Hồng Sển lần lượt trải qua nhiều vị trí: Tòa Bố Sa Đéc, Sở Địa bộ tỉnh Sóc Trăng, rồi trở lại Sài Gòn năm 1938, công tác tại Phòng Dân sự Dinh Thống đốc Nam Kỳ.

Cuối năm 1941, ông được biệt phái lên Đà Lạt, làm việc tại Dinh Toàn quyền Decoux với chức danh “Thơ ký hạng nhất”. Hai năm sau, ông xin đổi về quê nhà Sóc Trăng, tiếp tục công tác ở Tòa Bố cho đến khi về hưu, kết thúc sự nghiệp hành chính nhưng mở ra một hành trình khác - hành trình của nhà sưu tầm, người giữ ký ức Nam Bộ.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Vương Hồng Sển được tổ chức Thanh niên Tiền phong ở địa phương tín nhiệm, tiến cử giữ chức Phó tỉnh trưởng hành chánh tỉnh Sóc Trăng, một vị trí vừa mang trọng trách quản lý vừa phản ánh uy tín trí thức của ông trong xã hội thời bấy giờ. Đến khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, ông rời nhiệm sở; năm 1947, do bệnh nặng, ông lên Sài Gòn điều trị.

Từ đó, cuộc đời Vương Hồng Sển rẽ sang một hướng mới - con đường gắn liền với bảo tồn và nghiên cứu văn hóa. Năm 1949, ông bắt đầu làm việc với tư cách hợp đồng tại Viện Bảo tàng Sài Gòn, sau này trở thành Giám đốc Viện - nơi ông có điều kiện thỏa chí sưu tầm, ghi chép và kể lại những câu chuyện của quá khứ.

Từ năm 1963, ông về sống tại Gia Định, tiếp tục chuyên tâm viết, sưu tầm và giảng dạy. Ở tuổi xế chiều, Vương Hồng Sển vẫn miệt mài trên bục giảng của Đại học Văn khoa Sài Gòn và Huế, nơi ông chia sẻ những chuyên đề độc đáo về văn học miền Nam và cổ ngoạn học. Ở ông, người ta bắt gặp một học giả uyên bác nhưng gần gũi, vừa là nhà nghiên cứu sâu sắc, vừa là người kể chuyện duyên dáng, có thể khiến những cổ vật vô tri như bỗng cất lời kể chuyện đời.

Ông từng nói một cách khiêm nhường: “Tôi chỉ là người ham vui, mê cổ ngoạn và mê chữ nghĩa”. Nhưng di sản mà ông để lại thì không nhỏ bé chút nào. Khi qua đời năm 1996, Vương Hồng Sển hiến tặng toàn bộ gia sản - từ ngôi nhà cổ, tủ sách quý, đến hàng nghìn món đồ cổ vô giá cho Nhà nước, để hình thành Bảo tàng Vương Hồng Sển, một địa chỉ văn hóa độc đáo lưu giữ “hồn vía người chơi cổ Việt Nam”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng từng nhận định: “Vương Hồng Sển sống gần trọn thế kỷ 20, chứng kiến hầu hết những biến cố lớn của Nam Bộ. Có thể nói, ông là người am tường nhiều lĩnh vực liên hệ đến văn hóa Nam Bộ và là nhà cổ ngoạn độc nhất ở Việt Nam”. Quả thật, đời ông như một tấm gương phản chiếu ký ức văn hóa miền Nam suốt thế kỷ nhiều biến động. Giữa bao thay đổi của thời cuộc, Vương Hồng Sển vẫn lặng lẽ gìn giữ những giá trị cũ - thứ tài sản tinh thần quý hơn mọi món cổ ngoạn mà ông từng sưu tầm.

vuong-hong-sen-3.jpg
Nhà cổ Vân Đường Phủ của học giả Vương Hồng Sển tại TPHCM ngày nay. Ảnh: Lê Quân

Bữa tiệc chữ nghĩa của một người mê đời

Nếu phải chọn ra tác phẩm tiêu biểu nhất cho phong cách Vương Hồng Sển, hẳn nhiều người sẽ nhắc ngay đến hai cuốn sách trứ danh: “Sài Gòn năm xưa” (1962) và “Sài Gòn tạp pín lù” (1991) - những “đứa con tinh thần” mà ông xem là tâm đắc nhất trong buổi vãn niên.

Với con mắt của người đã sống, đã yêu và đã tiếc nuối Sài Gòn, ông Vương viết về thành phố này không phải như một sử gia khô khan, mà như một người kể chuyện thấm đẫm ân tình. Trong từng trang viết, Sài Gòn hiện ra vừa thực vừa mơ - có tiếng rao đêm, bóng áo dài tan học, có cả những nỗi bâng khuâng của một đô thị đang chuyển mình giữa cũ và mới.

“Sài Gòn năm xưa” là lời kể về nguồn gốc, địa thế và hình hài của thành phố, còn “Sài Gòn tạp pín lù” lại là một bức tranh tạp mosaic sống động, gom nhặt đủ mọi sắc màu đời sống, con người và phong vị xưa cũ.

Chính ông từng giải thích nhan đề độc đáo này bằng giọng hóm hỉnh: “Tạp pín lù, nếu dịch Hán Việt là ‘đả biên lô’, nghĩa là món ăn nấu chín bên lò lửa, như ăn sán lẩu… ‘Sài Gòn tạp pín lù’ nôm na là Sài Gòn thập cẩm, Sài Gòn tào lao, Sài Gòn ba lăng nhăng, ai muốn hiểu sao thì hiểu… Nhưng tôi sanh tại Sóc Trăng (Nam Kỳ), nên tập này danh gọi Sài Gòn tạp pín lù là vì vậy”.

Và quả thật, “Sài Gòn tạp pín lù” chính là một “món lẩu chữ nghĩa” độc đáo - nơi ông hòa quyện giữa khảo cứu và hồi ức, giữa tư liệu và cảm xúc. Ở đó, ông không chỉ kể về nếp sống phong lưu, mà còn tỉ mỉ ghi chép từng tiếng nói, phong tục, nhân vật, giai thoại nửa thật nửa hư của vùng đất Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Đọc Vương Hồng Sển là bước vào một thế giới mà mỗi câu chữ đều thấm mùi thời gian, mỗi trang sách như mở ra cả một không gian ký ức - nơi Sài Gòn không chỉ là thành phố, mà là một phần hồn Việt được ông nâng niu gìn giữ bằng tất cả tấm lòng.

Trong “Sài Gòn tạp pín lù”, mỗi trang viết là một lát cắt đời sống, nơi con người, câu chuyện và ký ức hòa quyện thành bức tranh sống động về Nam Bộ đầu thế kỷ XX. Ông Vương dành nhiều trang viết cho những “mỹ nhân vang bóng” của đất Sài Gòn, trong đó nổi bật nhất là cô Ba Trà (Trần Ngọc Trà) - người được ông tôn vinh là “Huê khôi số một Sài Gòn, khoảng 1920 - 1935”.

Với lối văn vừa trữ tình, vừa khảo cứu, cụ Vương phác họa hình ảnh cô Ba Trà như một biểu tượng của thời đại - đẹp kiêu sa mà lắm truân chuyên: “Cô Ba Trà, đệ nhất Huê khôi ở Nam Kỳ, một người đẹp sắc nước hương trời từng làm say mê biết bao công tử miền Nam. Họ bao quanh cô, tranh nhau vung tiền qua cửa sổ. Bao nhiêu tiền bạc, của cải cha mẹ để lại, các công tử ấy ăn xài, bao gái không tiếc”.

Những trang viết về cô Ba Trà, Tư Nhị, Sáu Ngọc Anh, Năm Pho hay Bảy Hột Điều… không chỉ là chuyện người đẹp và công tử, mà là chuyện của một thời phong lưu đã mất, nơi Sài Gòn vừa rực rỡ vừa mong manh, “ăn chơi mà vẫn thanh lịch”.

Giới nghiên cứu đánh giá “Sài Gòn tạp pín lù” không chỉ là tập tản văn hoài cổ, mà còn là một tư liệu quý về đời sống Nam Bộ đầu thế kỷ XX, nơi hiện lên cả không gian văn hóa với ngôn ngữ bình dân, cách nói “tào lao” mà giàu hình tượng, phóng khoáng mà vẫn thấm đẫm tình người.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng từng nhận xét: “Sài Gòn tuy không có quá khứ ‘nghìn năm văn vật’ như Hà Nội, Huế; nhưng nơi đây lại có những ‘nam thanh nữ tú’, nhứt là có một cái duyên ngầm tạo được những sợi dây tình cảm cắt không đứt bứt không rời”.

Vương Hồng Sển đã nắm bắt được cái duyên ấy bằng chữ. Ở “Sài Gòn tạp pín lù”, văn ông vừa có tính học giả, vừa có chất tài tử - vừa khảo cổ, vừa kể chuyện, vừa châm biếm, vừa bông đùa. Chính cái duyên Nam Bộ ấy khiến văn chương của cụ không bao giờ cũ; nó sống động như chính Sài Gòn mà cụ yêu thương suốt đời.

Bút pháp của Vương Hồng Sển là một thế giới riêng, không giống ai và khó có thể bắt chước. Ông viết như nói, viết như nhớ lại, giọng văn tự nhiên, thân mật, dung hòa giữa tiếng Nôm, tiếng Hán, tiếng Pháp và giọng Nam Bộ ngọt ngào. Tác phẩm của ông vì thế vừa bình dân, vừa bác học, vừa có duyên dân dã, vừa đậm chiều sâu học thuật.

Cụ Vương từng hóm hỉnh nói: “Tôi nhớ đâu viết đó, viết bằng máy chữ, không gọt giũa, nên có cái duyên tự nhiên”. Chính cái “duyên tự nhiên” ấy đã làm nên phong cách Vương Hồng Sển - một giọng văn mang hồn Nam Bộ, phóng khoáng mà sâu sắc, giản dị mà thấm đẫm tinh thần văn hóa.

Không chỉ là nhà văn, Vương Hồng Sển còn là một nhà khảo cứu ngôn ngữ hiếm có. Tác phẩm “Tự vị Tiếng Việt miền Nam” là một công trình đồ sộ và công phu, ghi lại hàng trăm từ ngữ đặc sản của vùng đất phương Nam - những tiếng nói dân dã, thân thuộc nhưng từng có nguy cơ mai một. Với cuốn sách này, ông không chỉ làm công việc của một nhà ngữ học, mà còn của một người gìn giữ ký ức văn hóa, bảo tồn “hơi thở của tiếng nói miền Nam” bằng cả tấm lòng yêu quê sâu nặng.

Trong ký ức của nhiều thế hệ, Vương Hồng Sển vẫn là “ông già kể chuyện Sài Gòn” - người kể chuyện quá khứ bằng giọng Nam Bộ mộc mạc, chân tình. Ông không chỉ sưu tầm đồ cổ, mà còn sưu tầm ký ức, lưu giữ giọng nói, nếp sống và tâm hồn của một miền đất từng vang bóng. Ở ông, người ta thấy hiện thân của một nền văn hóa Nam Bộ vừa phóng khoáng vừa tinh tế, nơi mỗi câu chữ, mỗi món cổ vật đều thấm đẫm tình người và hồn quê.

vuong-hong-sen-4.jpg
Phòng trưng bày cổ vật của Vương Hồng Sển tại Bảo tàng Lịch sử TPHCM. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử TPHCM

“Hơn nửa đời hư”

Nếu “Sài Gòn năm xưa” và “Sài Gòn tạp pín lù” cho thấy một Vương Hồng Sển say mê mảnh đất Sài Gòn cùng văn hóa Nam Bộ trù phú, thì “Hơn nửa đời hư” (1992) lại là một bức chân dung tự họa đầy nhân bản, nơi ông đối diện chính mình bằng giọng kể chân tình, hóm hỉnh mà sâu sắc.

Tác phẩm được hình thành từ những ghi chép, tài liệu mà học giả họ Vương “giữ gìn suốt chục năm dư mà không mất”, như chính lời ông viết. Trong đó, hành trình cuộc đời được tái hiện mộc mạc mà sống động: từ cậu bé gốc Minh Hương ở Sóc Trăng, đến viên chức hành chính thời Pháp thuộc, rồi trở thành nhà nghiên cứu, nhà sưu tập và nhà văn hóa tiêu biểu của một thế hệ “đã đi qua Sài Gòn cũ”.

Đọc “Hơn nửa đời hư”, người ta không chỉ thấy chân dung một trí thức Nam Bộ, mà còn bắt gặp những chuyển mình dữ dội của đất nước trong thế kỷ XX - những biến động in dấu lên từng nếp sống, từng nỗi niềm riêng.

“Đời tôi là một chữ Hư to tướng”, ông từng viết. Nhưng “hư” ở đây không phải là vô nghĩa, mà là sự tự trào, là thái độ sống khiêm nhường, buông xả theo tinh thần Nho - Phật hòa quyện. Dù sưu tầm hàng ngàn cổ vật quý - từ đồ sứ Trung Hoa, gốm Việt đến thư pháp, sách cổ - ông vẫn xem tất cả chỉ như “những người bạn tri âm”. Cái “hư” của Vương Hồng Sển là cái “không vướng”, để còn thong dong ngắm đời, giữ cho tâm và chữ được trong.

Trong mắt người đương thời, Vương Hồng Sển là biểu tượng của “người biết chơi” - không phải kẻ hưởng lạc, mà là người biết thưởng thức và trân trọng cái đẹp. Ông yêu cải lương, sành “cầm chầu”, am tường hội họa, văn chương, đặc biệt là cổ ngoạn.

Với ông, “chơi cổ” không chỉ là thú vui, mà là cách lưu giữ một phần linh hồn văn hóa Việt - thứ mà ông đã dành cả đời để nâng niu và kể lại bằng thứ văn chương đậm chất Nam Bộ, duyên dáng, nồng hậu và rất người.

Trong lễ sinh nhật 89 tuổi, một người tặng ông một bài hát nói, có thể tóm tắt được con người Vương Hồng Sển:

Giắt trong lưng sẵn một chữ tài,

Tiêu từ nẳm tới nay, tiêu hoài chưa thấy hết.

Lại còn tiếng là người lịch duyệt,

Biết cải lương, biết đồ cổ, biết nhà xẹt, biết cầm chầu

Biết như ông, biết vậy cũng nên cầu,

Đàn em muốn nhưng mà đâu có được!

Hiên Đạt Cổ ngậm ngùi thương

buổi trước.

Phủ Vân Đường thủ thỉ nhắc người sau,

Thú phong lưu ngày tháng vẫn

phong lưu

Chuyện tang hải mặc dù non tự tại

Đồng Nai đã từng, Phú Xuân cũng trải

Hơn nửa đời hư mà tính có gì hư!

Hỏi ông, ông chớ cười trừ.

Những câu hát ấy vừa hóm hỉnh, vừa chân thực, phản ánh đúng hình ảnh một cụ Vương vừa bác học vừa phong lưu, một người “biết chơi” theo đúng nghĩa Nam Bộ. Dù từng “tiêu” cả đời vào chữ nghĩa và đồ cổ, ông không để lại giàu sang, chỉ để lại một gia tài tinh thần khổng lồ - những trang viết về Sài Gòn, về văn hóa miền Nam, về cái “thú chơi” vừa tao nhã vừa trí tuệ.

Năm 2023, UBND TPHCM đã ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố cho ngôi nhà của ông (Vân Đường Phủ). Tuy nhiên, tính đến đầu năm 2025, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc thành lập bảo tàng vẫn chưa được hoàn thành.

Chia sẻ
Vương Hồng Sểnvăn hóa Việtbảo tồnđời sốngnghệ nhângiữ hồn cổSài Gòn tạp pín lùSài Gòn năm xưanhà văn hóacổ ngoạn
Theo Lê Nam
Báo Giáo dục và Thời đại Online
Theo: Báo Giáo dục và Thời đại Online
2026/01/17 06:55 (GMT+7)

Xem thêm Văn hóa

Vinh danh 34 tác phẩm báo chí về phát triển văn hóa Thủ đô
Văn hóa

Vinh danh 34 tác phẩm báo chí về phát triển văn hóa Thủ đô

Đưa Nghị quyết 80-NQ/TW vào cuộc sống: Để di sản sống cùng thế hệ trẻ
Văn hóa

Đưa Nghị quyết 80-NQ/TW vào cuộc sống: Để di sản sống cùng thế hệ trẻ

Di tích quốc gia Bến phà II Long Đại đón nhận Bằng tôn vinh kỷ lục Việt Nam
Văn hóa

Di tích quốc gia Bến phà II Long Đại đón nhận Bằng tôn vinh kỷ lục Việt Nam

Yêu cầu tạo dấu ấn ngay từ năm đầu tiên tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam
Văn hóa

Yêu cầu tạo dấu ấn ngay từ năm đầu tiên tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam

Đề xuất 51 chỉ tiêu thống kê về đóng góp của ngành công nghiệp văn hóa vào kinh tế
Văn hóa

Đề xuất 51 chỉ tiêu thống kê về đóng góp của ngành công nghiệp văn hóa vào kinh tế

Quảng Trị hoàn thiện cơ sở khoa học cho Đề án chuyển đổi số văn hóa, du lịch
Văn hóa

Quảng Trị hoàn thiện cơ sở khoa học cho Đề án chuyển đổi số văn hóa, du lịch

Mới nhất

2026-10-15 09:03

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Xây dựng Đại học Bách khoa Hà Nội trở thành đại học nghiên cứu xuất sắc

GD&TĐ - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh xây dựng Đại học Bách khoa Hà Nội trở thành đại học nghiên cứu xuất sắc, đảm nhận nhiệm vụ lớn của quốc gia.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Xây dựng Đại học Bách khoa Hà Nội trở thành đại học nghiên cứu xuất sắc
2026-10-15 09:02

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đại học Bách khoa Hà Nội

GD&TĐ - Sáng 15/10, Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức Lễ mít tinh kỷ niệm 70 năm thành lập (15/10/1956 - 15/10/2026) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đại học Bách khoa Hà Nội
2026-10-15 09:02

Phát động cuộc thi “Mình Cùng Sống Xanh” mùa 2 sáng tạo tranh về bảo vệ môi trường

GD&TĐ - Báo Giáo dục và Thời đại, Cầu Vồng Tuổi thơ phối hợp Elmich Việt Nam phát động cuộc thi “Mình Cùng Sống Xanh” - Mùa 2, khơi dậy tình yêu thiên nhiên và kết nối gia đình qua hành trình sáng tạo.

Phát động cuộc thi “Mình Cùng Sống Xanh” mùa 2 sáng tạo tranh về bảo vệ môi trường
2026-10-15 09:01

Trường Cao đẳng Sơn La chú trọng đào tạo ngành công nghệ thông tin

GD&TĐ - Trường Cao đẳng Sơn La tập trung phát triển ngành công nghệ thông tin, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Trường Cao đẳng Sơn La chú trọng đào tạo ngành công nghệ thông tin
2026-10-15 08:51

Giảng viên RMIT trực tiếp giảng dạy chương trình AI cho sinh viên DTTS

GD&TĐ - Ngày 17/10 tới đây, tại Trường Đại học Đà Lạt, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Lễ khai giảng Chương trình nâng cao năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cho người học dân tộc thiểu số.

Giảng viên RMIT trực tiếp giảng dạy chương trình AI cho sinh viên DTTS
2026-10-15 08:50

Nâng cao chất lượng giáo dục từ đổi mới dạy học ngoại ngữ và AI

GD&TĐ - Trường Tiểu học Thành Công phát huy năng lực đội ngũ, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí AI và ngoại ngữ, nâng cao chất lượng giáo dục.

Nâng cao chất lượng giáo dục từ đổi mới dạy học ngoại ngữ và AI
2026-10-15 08:50

Bước đi tiên quyết đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học

GD&TĐ - Khi tiếng Anh từng bước trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, chuẩn hóa năng lực người học là cơ sở theo dõi tiến bộ và định hướng lộ trình phát triển phù hợp.

Bước đi tiên quyết đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học
2026-10-15 08:50

Hành trình ‘gieo chữ, trao nghề’ và bệ phóng sinh kế cho lao động vùng xa TP Huế

GD&TĐ - Một địa điểm dạy học văn hóa kết hợp dạy nghề đã giúp nâng cao tỷ lệ tốt nghiệp, đỗ đại học lẫn tạo sinh kế cho học sinh, học viên vùng xa TP Huế.

Hành trình ‘gieo chữ, trao nghề’ và bệ phóng sinh kế cho lao động vùng xa TP Huế
2026-10-15 08:49

Đại học Kinh tế Quốc dân khai giảng khóa đào tạo lãnh đạo điều hành cao cấp NEU

GD&TĐ - Khóa đào tạo “Lãnh đạo điều hành cao cấp NEU” được khai giảng ngày 13/10 cho 88 học viên là những nhà lãnh đạo, nhà quản lý và doanh nhân đến từ các doanh nghiệp, tổ chức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau là cựu sinh viên, học viên của Đại học Kinh tế Quốc dân.

Đại học Kinh tế Quốc dân khai giảng khóa đào tạo lãnh đạo điều hành cao cấp NEU
2026-10-15 08:49

Trường nghề đổi mới phương pháp đào tạo, đáp ứng thị trường lao động

GD&TĐ - Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Sơn La đổi mới phương pháp đào tạo, để phù hợp với yêu cầu thị trường lao động, nâng cao nguồn nhân lực.

Trường nghề đổi mới phương pháp đào tạo, đáp ứng thị trường lao động