Xóa mù chữ gắn với sinh kế của người đồng bào dân tộc thiểu số
2025/10/09 08:47
GD&TĐ - Giai đoạn 2026–2030, công tác xóa mù chữ sẽ gắn với sinh kế, chuyển đổi số và mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau.
Nhận diện thách thức
Giai đoạn 2021–2025, công tác xóa mù chữ trong khuôn khổ Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, khi bước sang giai đoạn 2026–2030, vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết để bảo đảm tính bền vững.
Trước hết, nguy cơ tái mù chữ vẫn hiện hữu, nhất là trong nhóm phụ nữ trung niên, lao động di cư và người lớn tuổi ít có cơ hội học tập thường xuyên. Việc duy trì kết quả xóa mù chữ ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn gặp nhiều trở ngại do cơ sở vật chất thiếu thốn, đội ngũ giáo viên chưa được phân bổ đồng đều.
Một vấn đề nữa là tâm lý ngại học của người dân. Không ít người dân coi việc học chữ là xa vời, trong khi phải ưu tiên lao động kiếm sống hằng ngày. Do đó, lớp học dễ rơi vào tình trạng ít học viên, tỷ lệ chuyên cần thấp. Nhiều trường hợp sau khi biết đọc, viết ở mức cơ bản nhưng không được sử dụng thường xuyên nên nhanh chóng quên, dẫn tới tái mù chữ.
Ngoài ra, nguồn lực tài chính cho xóa mù chữ vẫn phụ thuộc nhiều vào ngân sách Trung ương. Báo cáo của Bộ GD&ĐT cho thấy, kinh phí được phân bổ cho Dự án 5.1 (bao gồm cả xóa mù chữ) giai đoạn 2021–2025 là 8.074,638 tỷ đồng cho 42 địa phương, trong đó vốn sự nghiệp là 1.781,592 tỷ đồng. Tuy nhiên, khoản này chủ yếu dùng chung cho nhiều hạng mục, khiến kinh phí dành riêng cho xóa mù chữ còn hạn hẹp.
Quan trọng hơn, mục tiêu cụ thể đến năm 2025 là tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông trên 90%. Dù đây là mục tiêu toàn Chương trình, nhưng để duy trì và nâng cao tỷ lệ này trong giai đoạn tới, công tác xóa mù chữ cần phải chuyển hướng mạnh mẽ, gắn với lợi ích thiết thực của người học.
Nhiều giải pháp về xóa mù chữ chức năng được nêu ra trong báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện các nội dung về giáo dục và đào tạo thuộc CTMTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBDTTT&MN.
Đồng bộ giải pháp
Để đạt hiệu quả bền vững, công tác xóa mù chữ trong giai đoạn 2026–2030 được định hướng theo nhiều giải pháp đồng bộ.
Thứ nhất, gắn xóa mù chữ với sinh kế. Các lớp học không chỉ dạy đọc, viết đơn thuần, mà cần lồng ghép kiến thức phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống. Ví dụ như: dạy tính toán cơ bản để buôn bán, ghi chép chi tiêu gia đình, áp dụng kỹ thuật canh tác mới, hay tiếp cận thông tin thị trường. Khi việc học trực tiếp mang lại lợi ích kinh tế, người dân sẽ có động lực hơn để tham gia và duy trì lớp học.
Thứ hai, đa dạng hóa mô hình dạy học. Ngoài hình thức lớp học truyền thống, cần triển khai lớp học linh hoạt theo mùa vụ, tổ chức học tại cộng đồng, học ở nhà văn hóa bản, hay kết hợp với chương trình khuyến nông, khuyến lâm. Mô hình “cầm tay chỉ việc” và “học qua thực hành” cần được mở rộng, nhất là ở các vùng sản xuất nông – lâm nghiệp.
Thứ ba, tăng cường ứng dụng chuyển đổi số. Các tài liệu dạy học cần được số hóa, tạo thành kho học liệu mở, phát qua điện thoại, loa truyền thanh cơ sở hoặc hệ thống trực tuyến đơn giản. Giáo viên và cộng tác viên xóa mù chữ cần được trang bị kỹ năng công nghệ, để có thể sử dụng hình ảnh, video, ứng dụng di động hỗ trợ giảng dạy. Điều này vừa giúp người dân học tập thuận lợi, vừa giảm nguy cơ tái mù chữ nhờ khả năng “học lại” bất cứ lúc nào.
Thứ tư, nâng cao năng lực đội ngũ. Giáo viên tham gia xóa mù chữ cần được tập huấn chuyên sâu, am hiểu ngôn ngữ, phong tục tập quán địa phương. Đồng thời, cần có chế độ đãi ngộ phù hợp để thu hút và giữ chân giáo viên giỏi. Ở cấp cộng đồng, có thể phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín để làm “hạt nhân” vận động người dân đến lớp.
Thứ năm, bảo đảm nguồn lực tài chính ổn định và đa dạng. Bên cạnh nguồn vốn NSTW, cần huy động sự tham gia của địa phương, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các nguồn xã hội hóa khác. Các nguồn lực này có thể dùng để hỗ trợ trực tiếp người học (sách vở, văn phòng phẩm, chi phí đi lại), hoặc hỗ trợ giáo viên, tình nguyện viên.
Cuối cùng, tăng cường giám sát, đánh giá và truyền thông chính sách. Hệ thống báo cáo cần chuẩn hóa, cập nhật thường xuyên để kịp thời phát hiện tình trạng tái mù chữ. Các câu chuyện thành công, tấm gương vượt khó học chữ cần được nhân rộng, tạo hiệu ứng xã hội tích cực.
Công tác xóa mù chữ giai đoạn 2026-2030 ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ chuyển trọng tâm từ “học để biết chữ” sang “học để sống, để phát triển”. Mục tiêu duy trì tỷ lệ 90% người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông sẽ chỉ bền vững nếu việc học gắn liền với đời sống, sản xuất và khát vọng vươn lên của mỗi người dân.
Cô và trò Trường Mầm non Thu Cúc (Phú Thọ) trong Ngày hội đến trường.
Nhận diện thách thức
Giai đoạn 2021–2025, công tác xóa mù chữ trong khuôn khổ Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, khi bước sang giai đoạn 2026–2030, vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết để bảo đảm tính bền vững.
Trước hết, nguy cơ tái mù chữ vẫn hiện hữu, nhất là trong nhóm phụ nữ trung niên, lao động di cư và người lớn tuổi ít có cơ hội học tập thường xuyên. Việc duy trì kết quả xóa mù chữ ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn gặp nhiều trở ngại do cơ sở vật chất thiếu thốn, đội ngũ giáo viên chưa được phân bổ đồng đều.
Một vấn đề nữa là tâm lý ngại học của người dân. Không ít người dân coi việc học chữ là xa vời, trong khi phải ưu tiên lao động kiếm sống hằng ngày. Do đó, lớp học dễ rơi vào tình trạng ít học viên, tỷ lệ chuyên cần thấp. Nhiều trường hợp sau khi biết đọc, viết ở mức cơ bản nhưng không được sử dụng thường xuyên nên nhanh chóng quên, dẫn tới tái mù chữ.
Ngoài ra, nguồn lực tài chính cho xóa mù chữ vẫn phụ thuộc nhiều vào ngân sách Trung ương. Báo cáo của Bộ GD&ĐT cho thấy, kinh phí được phân bổ cho Dự án 5.1 (bao gồm cả xóa mù chữ) giai đoạn 2021–2025 là 8.074,638 tỷ đồng cho 42 địa phương, trong đó vốn sự nghiệp là 1.781,592 tỷ đồng. Tuy nhiên, khoản này chủ yếu dùng chung cho nhiều hạng mục, khiến kinh phí dành riêng cho xóa mù chữ còn hạn hẹp.
Quan trọng hơn, mục tiêu cụ thể đến năm 2025 là tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông trên 90%. Dù đây là mục tiêu toàn Chương trình, nhưng để duy trì và nâng cao tỷ lệ này trong giai đoạn tới, công tác xóa mù chữ cần phải chuyển hướng mạnh mẽ, gắn với lợi ích thiết thực của người học.
Nhiều giải pháp về xóa mù chữ chức năng được nêu ra trong báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện các nội dung về giáo dục và đào tạo thuộc CTMTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBDTTT&MN.
Đồng bộ giải pháp
Để đạt hiệu quả bền vững, công tác xóa mù chữ trong giai đoạn 2026–2030 được định hướng theo nhiều giải pháp đồng bộ.
Thứ nhất, gắn xóa mù chữ với sinh kế. Các lớp học không chỉ dạy đọc, viết đơn thuần, mà cần lồng ghép kiến thức phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống. Ví dụ như: dạy tính toán cơ bản để buôn bán, ghi chép chi tiêu gia đình, áp dụng kỹ thuật canh tác mới, hay tiếp cận thông tin thị trường. Khi việc học trực tiếp mang lại lợi ích kinh tế, người dân sẽ có động lực hơn để tham gia và duy trì lớp học.
Thứ hai, đa dạng hóa mô hình dạy học. Ngoài hình thức lớp học truyền thống, cần triển khai lớp học linh hoạt theo mùa vụ, tổ chức học tại cộng đồng, học ở nhà văn hóa bản, hay kết hợp với chương trình khuyến nông, khuyến lâm. Mô hình “cầm tay chỉ việc” và “học qua thực hành” cần được mở rộng, nhất là ở các vùng sản xuất nông – lâm nghiệp.
Thứ ba, tăng cường ứng dụng chuyển đổi số. Các tài liệu dạy học cần được số hóa, tạo thành kho học liệu mở, phát qua điện thoại, loa truyền thanh cơ sở hoặc hệ thống trực tuyến đơn giản. Giáo viên và cộng tác viên xóa mù chữ cần được trang bị kỹ năng công nghệ, để có thể sử dụng hình ảnh, video, ứng dụng di động hỗ trợ giảng dạy. Điều này vừa giúp người dân học tập thuận lợi, vừa giảm nguy cơ tái mù chữ nhờ khả năng “học lại” bất cứ lúc nào.
Thứ tư, nâng cao năng lực đội ngũ. Giáo viên tham gia xóa mù chữ cần được tập huấn chuyên sâu, am hiểu ngôn ngữ, phong tục tập quán địa phương. Đồng thời, cần có chế độ đãi ngộ phù hợp để thu hút và giữ chân giáo viên giỏi. Ở cấp cộng đồng, có thể phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín để làm “hạt nhân” vận động người dân đến lớp.
Thứ năm, bảo đảm nguồn lực tài chính ổn định và đa dạng. Bên cạnh nguồn vốn NSTW, cần huy động sự tham gia của địa phương, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các nguồn xã hội hóa khác. Các nguồn lực này có thể dùng để hỗ trợ trực tiếp người học (sách vở, văn phòng phẩm, chi phí đi lại), hoặc hỗ trợ giáo viên, tình nguyện viên.
Cuối cùng, tăng cường giám sát, đánh giá và truyền thông chính sách. Hệ thống báo cáo cần chuẩn hóa, cập nhật thường xuyên để kịp thời phát hiện tình trạng tái mù chữ. Các câu chuyện thành công, tấm gương vượt khó học chữ cần được nhân rộng, tạo hiệu ứng xã hội tích cực.
Công tác xóa mù chữ giai đoạn 2026-2030 ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ chuyển trọng tâm từ “học để biết chữ” sang “học để sống, để phát triển”. Mục tiêu duy trì tỷ lệ 90% người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông sẽ chỉ bền vững nếu việc học gắn liền với đời sống, sản xuất và khát vọng vươn lên của mỗi người dân.
Tăng cường bảo vệ học sinh từ trường học đến cộng đồng
GD&TĐ - Hưng Yên tăng cường bảo đảm an toàn trường học, đẩy mạnh phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong phòng, chống xâm hại học sinh.
2026-10-17 10:09
Để AI thực sự trở thành trợ lý học tập
GD&TĐ - Trường học TPHCM đẩy mạnh ứng dụng AI, giúp giáo viên đổi mới phương pháp, hỗ trợ học sinh học tập chủ động, hiệu quả và an toàn hơn.
2026-10-17 10:08
Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa
GD&TĐ - Sở GD&ĐT Bắc Ninh vừa phát động phong trào “Trang sách hồng” nhằm tái sử dụng sách giáo khoa, hỗ trợ học sinh khó khăn và hạn chế lãng phí.
2026-10-17 10:07
Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề
GD&TĐ - Việc kiến tạo không gian kết nối, trải nghiệm thực tiễn và khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng vươn lên cho sinh viên là rất quan trọng.
2026-10-17 10:07
Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026
GD&TĐ - Cả 4 học sinh Việt Nam tham dự Olympic Vật lí quốc tế Al-Fergani 2026 đều đoạt huy chương, gồm 1 Vàng, 2 Bạc và 1 Đồng.
2026-10-17 10:05
40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
GD&TĐ - Các nhà khoa học tập trung nhận diện những điểm nghẽn thể chế và động lực mới cho phát triển đất nước sau 40 năm đổi mới.
2026-10-17 10:05
Ủy ban Văn hóa và Xã hội làm việc với Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
GD&TĐ - Chiều 15/10, Đoàn công tác Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội làm việc với Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương về định hướng phát triển.
2026-10-17 10:05
Những phát hiện khảo cổ mới làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam
GD&TĐ - Hội thảo khảo cổ học lần thứ 61 công bố 396 nghiên cứu, bổ sung tư liệu về lịch sử, văn hóa Việt Nam qua nhiều thời kỳ.
2026-10-17 10:04
Học bạ số: Tăng trách nhiệm quản lý, bảo đảm quyền lợi người học
GD&TĐ - Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT về quản lý, sử dụng học bạ số đảm bảo quyền tham gia của người học, tăng cường trách nhiệm của cơ sở giáo dục.
2026-10-17 10:03
Xây trường nội trú vùng biên Quảng Trị: Hiện thực giấc mơ học tập của học sinh
GD&TĐ - Quảng Trị tập trung nguồn lực xây dựng 15 trường học vùng biên giới, 4 trường phổ thông nội trú giai đoạn 1 được đẩy nhanh để đưa vào sử dụng.