Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Y tế Việt Nam có đủ lợi thế để vươn lên dẫn đầu ASEAN nếu biết phát huy đúng 'điểm son'

2026/02/27 15:36

(CLO) Rào cản lớn nhất hiện nay khiến y tế Việt Nam chưa bứt phá mạnh mẽ ra khu vực không phải là vấn đề chuyên môn chưa cao, thiếu nguồn nhân lực hay trang thiết bị y tế, mà là sự chưa đồng bộ trong cơ chế vận hành của toàn hệ thống, bao gồm từ cơ chế chính sách, năng lực quản trị, phân tầng chuyên môn đến phân bổ nguồn lực.

GS.TSKH Dương Quý Sỹ, Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục & Phát triển Nhân lực cho rằng, hệ thống y tế Việt Nam có rất nhiều “điểm son”, nhưng chưa hình thành được sức mạnh mang tính đột phá để vươn mình tạo ra vị thế chuyên ngành trong khu vực ASEAN và châu Á.
"Rào cản lớn nhất của y tế Việt Nam hiện nay không nằm ở năng lực chuyên môn mà ở những điểm nghẽn mang tính hệ thống", giáo sư Sỹ nhấn mạnh.
4 rào cản được giáo sư chỉ rõ: Thứ nhất là sự chênh lệch chất lượng giữa các tuyến, khu vực, khiến hệ thống chưa đủ đồng đều để tạo dựng hình ảnh một nền y tế mạnh ở tầm khu vực và thế giới.
Thứ hai, cơ chế quản trị và chính sách còn nhiều bất cập, từ tài chính, tự chủ bệnh viện, đấu thầu - mua sắm, đãi ngộ nhân lực đến hợp tác công - tư, làm hạn chế khả năng đầu tư, đổi mới và thích ứng trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Thứ ba, hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo chưa phát triển tương xứng. Dù năng lực lâm sàng của đội ngũ y tế rất tốt, nhưng nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng AI và chuyển đổi số toàn hệ thống vẫn chưa tạo được bước đột phá, khiến y tế Việt Nam chủ yếu ở vai trò “ứng dụng” thay vì “dẫn dắt”.
Cuối cùng, nhân lực y tế chịu áp lực công việc lớn trong khi cơ chế đãi ngộ chưa tương xứng, gây khó khăn trong việc giữ chân và thu hút chuyên gia giỏi. Nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn về cơ chế và tăng cường liên kết giữa các thành tố trong hệ thống, y tế Việt Nam hoàn toàn có thể bứt phá, khẳng định vị thế trong khu vực.
Thực tiễn phát triển những năm gần đây cho thấy, y tế Việt Nam đang nằm trong nhóm hệ thống y tế năng động của ASEAN và châu Á. Với những lợi thế đặc thù, Việt Nam hoàn toàn có thể vươn lên nhóm dẫn đầu khu vực nếu biết phát huy đúng thế mạnh và tháo gỡ các rào cản nội tại.

Một trong những điểm nổi bật của y tế Việt Nam là sự phát triển tương đối hài hòa giữa các chuyên ngành, giữa dự phòng - điều trị - phục hồi chức năng, cùng sự thống nhất trong quản trị hệ thống. Chuyển đổi số y tế đang được thúc đẩy mạnh mẽ, tạo nền tảng cho quản lý hiện đại và kết nối liên thông.
Đặc biệt, các chủ trương, nghị quyết lớn của Trung ương về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã tạo hành lang chính sách ngày càng rõ ràng và mang tính đột phá. Đây chính là trụ cột thể chế để ngành y tế tăng tốc trong giai đoạn mới.
Theo giáo sư Sỹ, ưu thế chiến lược đầu tiên của Việt Nam là hệ thống y tế dự phòng và mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp. Trong bối cảnh mô hình bệnh tật chuyển dịch sang bệnh mạn tính và yêu cầu chăm sóc sức khỏe liên tục, nền tảng này giúp bảo đảm bao phủ dịch vụ và tính công bằng trong tiếp cận.
Song hành với đó, y học lâm sàng phát triển nhanh, đội ngũ bác sĩ có chuyên môn cao, nhiều kỹ thuật hiện đại được làm chủ. Ở một số lĩnh vực chuyên sâu, năng lực chuyên môn của Việt Nam đã đạt trình độ cao trong khu vực.
Hệ thống đào tạo nhân lực y tế cũng có bước tiến rõ nét khi ngày càng gắn với chuẩn năng lực nghề nghiệp, nghiên cứu lâm sàng và y học chứng cứ. Mạng lưới hợp tác quốc tế với các quốc gia có nền y học phát triển như Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn và chuyển giao công nghệ.
Bên cạnh khu vực công lập, y tế ngoài công lập phát triển mạnh, tạo thêm nguồn lực đầu tư, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ. Chính sách bảo hiểm y tế toàn dân và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước tiếp tục là nền tảng bảo đảm tính bền vững của hệ thống.
Việt Nam cũng sở hữu tiềm năng lớn về du lịch y tế nhờ chi phí hợp lý, thời gian chờ đợi ngắn, đội ngũ bác sĩ giỏi và lợi thế về du lịch nghỉ dưỡng. Đây có thể trở thành hướng phát triển chiến lược nếu được tổ chức bài bản.
Giáo sư cũng kỳ vọng Việt Nam sẽ trở thành điểm đến điều trị của khu vực, không thể dựa vào một yếu tố đơn lẻ mà cần sự kết hợp giữa kỹ thuật cao, quản trị hiện đại và chính sách đồng bộ.
Kỹ thuật cao là điều kiện cần để tạo niềm tin cho người bệnh quốc tế. Quản trị bệnh viện tiên tiến giúp bảo đảm chất lượng, an toàn và trải nghiệm dịch vụ. Tuy nhiên, yếu tố mang tính chiến lược và quyết định vẫn là chính sách.
Chính sách về tự chủ bệnh viện, đầu tư hạ tầng, cơ chế tài chính linh hoạt, hợp tác công - tư, thu hút và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao, hội nhập quốc tế… sẽ quyết định khả năng chuyển hóa tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh thực sự. Nếu không tháo gỡ được các “điểm nghẽn” thể chế, kỹ thuật cao cũng khó phát huy hết giá trị.
Giáo sư Sỹ nhấn mạnh, các bệnh viện đầu ngành không chỉ là nơi tập trung kỹ thuật cao mà phải thực sự dẫn dắt toàn hệ thống.
Trước hết, cần xây dựng và chuẩn hóa các hướng dẫn chẩn đoán, điều trị dựa trên y học chứng cứ, phù hợp điều kiện thực tiễn trong nước để nâng mặt bằng chất lượng chung.
Thứ hai, đẩy mạnh đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, phát triển mạng lưới chuyên gia, hội chẩn từ xa, phân tầng điều trị hợp lý nhằm tối ưu nguồn lực.
Thứ ba, tiên phong trong nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời áp dụng mô hình quản trị hiện đại, quản lý chất lượng và an toàn người bệnh theo chuẩn quốc tế.
Chỉ khi chuyển từ phát triển đơn lẻ sang tư duy dẫn dắt hệ thống, bệnh viện đầu ngành mới thực sự tạo được sức lan tỏa.
Trong 10-15 năm tới, giáo sư Sỹ kỳ vọng hệ thống bệnh viện Việt Nam sẽ được nhận diện trên bản đồ y tế châu Á không chỉ vì kỹ thuật cao, mà còn vì một mô hình y tế hiện đại, hiệu quả và giàu tính nhân văn.
Đó sẽ là hệ thống bệnh viện đồng bộ từ cơ sở đến trung ương đạt chuẩn chất lượng cao; một số trung tâm chuyên sâu có uy tín khu vực; đồng thời là nơi đào tạo và chuyển giao kỹ thuật cho ASEAN và châu Á.
Việt Nam cũng có thể trở thành điểm đến của du lịch y tế chất lượng cao, nơi người bệnh quốc tế tìm đến vì sự kết hợp giữa chuyên môn vững, chi phí hợp lý và dịch vụ toàn diện.
Giáo sư Sỹ cũng chỉ rõ tiềm năng của y tế Việt Nam không nằm ở việc thiếu năng lực chuyên môn, mà ở khả năng liên kết các thành tố trong hệ thống. Khi chính sách và mô hình quản trị được hoàn thiện, y tế Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển từ phát triển nhanh sang bứt phá, khẳng định vị thế trong khu vực.
GS.TSKH Dương Quý Sỹ, Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục & Phát triển Nhân lực cho rằng, hệ thống y tế Việt Nam có rất nhiều “điểm son”, nhưng chưa hình thành được sức mạnh mang tính đột phá để vươn mình tạo ra vị thế chuyên ngành trong khu vực ASEAN và châu Á.
"Rào cản lớn nhất của y tế Việt Nam hiện nay không nằm ở năng lực chuyên môn mà ở những điểm nghẽn mang tính hệ thống", giáo sư Sỹ nhấn mạnh.
4 rào cản được giáo sư chỉ rõ: Thứ nhất là sự chênh lệch chất lượng giữa các tuyến, khu vực, khiến hệ thống chưa đủ đồng đều để tạo dựng hình ảnh một nền y tế mạnh ở tầm khu vực và thế giới.
Thứ hai, cơ chế quản trị và chính sách còn nhiều bất cập, từ tài chính, tự chủ bệnh viện, đấu thầu - mua sắm, đãi ngộ nhân lực đến hợp tác công - tư, làm hạn chế khả năng đầu tư, đổi mới và thích ứng trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Thứ ba, hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo chưa phát triển tương xứng. Dù năng lực lâm sàng của đội ngũ y tế rất tốt, nhưng nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng AI và chuyển đổi số toàn hệ thống vẫn chưa tạo được bước đột phá, khiến y tế Việt Nam chủ yếu ở vai trò “ứng dụng” thay vì “dẫn dắt”.
Cuối cùng, nhân lực y tế chịu áp lực công việc lớn trong khi cơ chế đãi ngộ chưa tương xứng, gây khó khăn trong việc giữ chân và thu hút chuyên gia giỏi. Nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn về cơ chế và tăng cường liên kết giữa các thành tố trong hệ thống, y tế Việt Nam hoàn toàn có thể bứt phá, khẳng định vị thế trong khu vực.
Thực tiễn phát triển những năm gần đây cho thấy, y tế Việt Nam đang nằm trong nhóm hệ thống y tế năng động của ASEAN và châu Á. Với những lợi thế đặc thù, Việt Nam hoàn toàn có thể vươn lên nhóm dẫn đầu khu vực nếu biết phát huy đúng thế mạnh và tháo gỡ các rào cản nội tại.
GS Sỹ chia sẻ tại buổi gặp mặt đại diện các nhà khoa học tiêu biểu lĩnh vực y tế và giám đốc các bệnh viện trung ương, kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam - Ảnh: NVCC

Một trong những điểm nổi bật của y tế Việt Nam là sự phát triển tương đối hài hòa giữa các chuyên ngành, giữa dự phòng - điều trị - phục hồi chức năng, cùng sự thống nhất trong quản trị hệ thống. Chuyển đổi số y tế đang được thúc đẩy mạnh mẽ, tạo nền tảng cho quản lý hiện đại và kết nối liên thông.
Đặc biệt, các chủ trương, nghị quyết lớn của Trung ương về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã tạo hành lang chính sách ngày càng rõ ràng và mang tính đột phá. Đây chính là trụ cột thể chế để ngành y tế tăng tốc trong giai đoạn mới.
Theo giáo sư Sỹ, ưu thế chiến lược đầu tiên của Việt Nam là hệ thống y tế dự phòng và mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp. Trong bối cảnh mô hình bệnh tật chuyển dịch sang bệnh mạn tính và yêu cầu chăm sóc sức khỏe liên tục, nền tảng này giúp bảo đảm bao phủ dịch vụ và tính công bằng trong tiếp cận.
Song hành với đó, y học lâm sàng phát triển nhanh, đội ngũ bác sĩ có chuyên môn cao, nhiều kỹ thuật hiện đại được làm chủ. Ở một số lĩnh vực chuyên sâu, năng lực chuyên môn của Việt Nam đã đạt trình độ cao trong khu vực.
Hệ thống đào tạo nhân lực y tế cũng có bước tiến rõ nét khi ngày càng gắn với chuẩn năng lực nghề nghiệp, nghiên cứu lâm sàng và y học chứng cứ. Mạng lưới hợp tác quốc tế với các quốc gia có nền y học phát triển như Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn và chuyển giao công nghệ.
Bên cạnh khu vực công lập, y tế ngoài công lập phát triển mạnh, tạo thêm nguồn lực đầu tư, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ. Chính sách bảo hiểm y tế toàn dân và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước tiếp tục là nền tảng bảo đảm tính bền vững của hệ thống.
Việt Nam cũng sở hữu tiềm năng lớn về du lịch y tế nhờ chi phí hợp lý, thời gian chờ đợi ngắn, đội ngũ bác sĩ giỏi và lợi thế về du lịch nghỉ dưỡng. Đây có thể trở thành hướng phát triển chiến lược nếu được tổ chức bài bản.
Giáo sư cũng kỳ vọng Việt Nam sẽ trở thành điểm đến điều trị của khu vực, không thể dựa vào một yếu tố đơn lẻ mà cần sự kết hợp giữa kỹ thuật cao, quản trị hiện đại và chính sách đồng bộ.
Kỹ thuật cao là điều kiện cần để tạo niềm tin cho người bệnh quốc tế. Quản trị bệnh viện tiên tiến giúp bảo đảm chất lượng, an toàn và trải nghiệm dịch vụ. Tuy nhiên, yếu tố mang tính chiến lược và quyết định vẫn là chính sách.
Chính sách về tự chủ bệnh viện, đầu tư hạ tầng, cơ chế tài chính linh hoạt, hợp tác công - tư, thu hút và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao, hội nhập quốc tế… sẽ quyết định khả năng chuyển hóa tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh thực sự. Nếu không tháo gỡ được các “điểm nghẽn” thể chế, kỹ thuật cao cũng khó phát huy hết giá trị.
Giáo sư Sỹ nhấn mạnh, các bệnh viện đầu ngành không chỉ là nơi tập trung kỹ thuật cao mà phải thực sự dẫn dắt toàn hệ thống.
Trước hết, cần xây dựng và chuẩn hóa các hướng dẫn chẩn đoán, điều trị dựa trên y học chứng cứ, phù hợp điều kiện thực tiễn trong nước để nâng mặt bằng chất lượng chung.
Thứ hai, đẩy mạnh đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, phát triển mạng lưới chuyên gia, hội chẩn từ xa, phân tầng điều trị hợp lý nhằm tối ưu nguồn lực.
Thứ ba, tiên phong trong nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời áp dụng mô hình quản trị hiện đại, quản lý chất lượng và an toàn người bệnh theo chuẩn quốc tế.
Chỉ khi chuyển từ phát triển đơn lẻ sang tư duy dẫn dắt hệ thống, bệnh viện đầu ngành mới thực sự tạo được sức lan tỏa.
Trong 10-15 năm tới, giáo sư Sỹ kỳ vọng hệ thống bệnh viện Việt Nam sẽ được nhận diện trên bản đồ y tế châu Á không chỉ vì kỹ thuật cao, mà còn vì một mô hình y tế hiện đại, hiệu quả và giàu tính nhân văn.
Đó sẽ là hệ thống bệnh viện đồng bộ từ cơ sở đến trung ương đạt chuẩn chất lượng cao; một số trung tâm chuyên sâu có uy tín khu vực; đồng thời là nơi đào tạo và chuyển giao kỹ thuật cho ASEAN và châu Á.
Việt Nam cũng có thể trở thành điểm đến của du lịch y tế chất lượng cao, nơi người bệnh quốc tế tìm đến vì sự kết hợp giữa chuyên môn vững, chi phí hợp lý và dịch vụ toàn diện.
Giáo sư Sỹ cũng chỉ rõ tiềm năng của y tế Việt Nam không nằm ở việc thiếu năng lực chuyên môn, mà ở khả năng liên kết các thành tố trong hệ thống. Khi chính sách và mô hình quản trị được hoàn thiện, y tế Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển từ phát triển nhanh sang bứt phá, khẳng định vị thế trong khu vực.
Chia sẻ
y tế Việt NamDương Quý Sỹ
Theo Văn Hiền
congluan.vn
Theo: congluan.vn
2026/02/27 14:00 (GMT+7)

Xem thêm Giáo dục thể chất

Theo dõi chiều cao, nhận biết bất thường tăng trưởng
Giáo dục thể chất

Theo dõi chiều cao, nhận biết bất thường tăng trưởng

Biến bất đồng thành đối thoại
Giáo dục thể chất

Biến bất đồng thành đối thoại

Chướng bụng, khó chịu sau bữa ăn có đáng lo ngại?
Giáo dục thể chất

Chướng bụng, khó chịu sau bữa ăn có đáng lo ngại?

Chuyển đổi số y khoa ở TPHCM: Bước tiến mới trong đào tạo, thực hành lâm sàng
Giáo dục thể chất

Chuyển đổi số y khoa ở TPHCM: Bước tiến mới trong đào tạo, thực hành lâm sàng

Quy trình chuẩn phòng chống ngộ độc thực phẩm trường học tại TPHCM
Giáo dục thể chất

Quy trình chuẩn phòng chống ngộ độc thực phẩm trường học tại TPHCM

Siết quản lý an toàn suất ăn bán trú, phụ huynh cùng tham gia giám sát
Giáo dục thể chất

Siết quản lý an toàn suất ăn bán trú, phụ huynh cùng tham gia giám sát

Mới nhất

2026-10-17 10:10

Ứng dụng AI trong khối ngành Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản

GD&TĐ - Chiều 16/10, tại Đại học Huế, Bộ GD&ĐT tổ chức Hội thảo khoa học “Ứng dụng Trí tuệ nhân tạo trong khối ngành Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản”.

Ứng dụng AI trong khối ngành Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản
2026-10-17 10:09

Tăng cường bảo vệ học sinh từ trường học đến cộng đồng

GD&TĐ - Hưng Yên tăng cường bảo đảm an toàn trường học, đẩy mạnh phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong phòng, chống xâm hại học sinh.

Tăng cường bảo vệ học sinh từ trường học đến cộng đồng
2026-10-17 10:09

Để AI thực sự trở thành trợ lý học tập

GD&TĐ - Trường học TPHCM đẩy mạnh ứng dụng AI, giúp giáo viên đổi mới phương pháp, hỗ trợ học sinh học tập chủ động, hiệu quả và an toàn hơn.

Để AI thực sự trở thành trợ lý học tập
2026-10-17 10:08

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa

GD&TĐ - Sở GD&ĐT Bắc Ninh vừa phát động phong trào “Trang sách hồng” nhằm tái sử dụng sách giáo khoa, hỗ trợ học sinh khó khăn và hạn chế lãng phí.

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa
2026-10-17 10:07

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề

GD&TĐ - Việc kiến tạo không gian kết nối, trải nghiệm thực tiễn và khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng vươn lên cho sinh viên là rất quan trọng.

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề
2026-10-17 10:07

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026

GD&TĐ - Cả 4 học sinh Việt Nam tham dự Olympic Vật lí quốc tế Al-Fergani 2026 đều đoạt huy chương, gồm 1 Vàng, 2 Bạc và 1 Đồng.

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026
2026-10-17 10:07

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026

GD&TĐ - Chương trình EDTECH VIETNAM – SEI Awards 2026 hướng đến tôn vinh sáng kiến, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong giáo dục.

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026
2026-10-17 10:06

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục

GD&TĐ - Triển lãm VIETEDU HANOI 2026 diễn ra tại Hà Nội, giới thiệu các giải pháp công nghệ phục vụ dạy học và quản lý giáo dục.

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục
2026-10-17 10:06

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập

GD&TĐ - Sáng 17/10, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm 75 năm thành lập (1951–2026).

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập
2026-10-17 10:05

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

GD&TĐ - Các nhà khoa học tập trung nhận diện những điểm nghẽn thể chế và động lực mới cho phát triển đất nước sau 40 năm đổi mới.

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới