Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

13 dược liệu điều trị bệnh đái tháo đường

2025/08/05 16:15

GD&TĐ - Nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Quốc gia TPHCM đã nghiên cứu, sàng lọc và tìm ra 13 dược liệu tại Việt Nam có tiềm năng điều trị bệnh đái tháo đường type 2.



Hỗ trợ điều trị bệnh

Đề tài nghiên cứu về sàng lọc dược liệu Việt Nam kháng đái tháo đường do TS Nguyễn Minh Nam - Trưởng Bộ môn Kỹ thuật Y sinh, Khoa Y, Trường Đại học Khoa học Sức khỏe (Đại học Quốc gia TPHCM) làm chủ trì. Tham gia thực hiện còn có ThS Nguyễn Thị Quỳnh Mai - nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Nhường, các sinh viên Trần Thị Khánh Linh, Vũ Hoàng Quỳnh Anh, cùng học viên cao học Nguyễn Thành Công (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TPHCM).
Theo ADA Standards of Care 2025 (tài liệu hướng dẫn chính thức hằng năm của Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ), điều trị đái tháo đường type 2 bao gồm nhiều phương pháp kết hợp: Thay đổi lối sống, sử dụng metformin như thuốc đầu tay nếu ăn uống và tập luyện không đủ hiệu quả, và có thể cân nhắc thêm các nhóm thuốc khác nếu cần. Một phương pháp khác là phẫu thuật chuyển hóa, áp dụng cho người béo phì nặng nhằm thúc đẩy khả năng thuyên giảm bệnh lý.
TS Nguyễn Minh Nam cho biết, mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm. Cụ thể, thay đổi lối sống có ưu điểm không gây tác dụng phụ nhưng đòi hỏi người bệnh kiên trì, hiệu quả cải thiện chậm và khó duy trì lâu dài. Dùng thuốc cho hiệu quả nhanh hơn nhưng có thể gây tác dụng phụ. Phẫu thuật có thể giúp thuyên giảm lâu dài, song là phương pháp xâm lấn, chi phí cao và có nguy cơ biến chứng.
Để khắc phục những hạn chế này, nhóm nghiên cứu đã tập trung sàng lọc các dược liệu Việt Nam có chứa hợp chất điều biến chọn lọc thụ thể PPAR-γ (yếu tố điều trị bệnh đái tháo đường type 2), nhằm tăng nhạy cảm insulin và giảm đường huyết, đồng thời hạn chế tác dụng phụ. Theo TS Nam, nhiều dược liệu truyền thống có độ an toàn cao hơn, ít gây tác dụng phụ so với thuốc tổng hợp. Ưu điểm khác là chi phí thấp, dễ tiếp cận, phù hợp với mức sống của người dân.
Từ cơ sở đó, nhóm xây dựng quy trình sàng lọc dược liệu thuần Việt dựa trên cơ sở dữ liệu hợp chất tự nhiên (LOTUS), nhằm thu thập thông tin về cấu trúc hóa học và nguồn gốc dược liệu. Sau khi phân tích và mô phỏng bằng phần mềm chuyên dụng, nhóm đã xác định được những hợp chất có tiềm năng điều trị đái tháo đường type 2.
TS Nam cho biết, nghiên cứu không bắt đầu bằng nhóm dược liệu cụ thể, mà sử dụng phương pháp sàng lọc dựa trên hợp chất. Cụ thể, nhóm tìm các dược liệu phân bố tại Việt Nam chứa những hợp chất có ái lực cao với thụ thể PPAR-γ, ưu tiên các hợp chất chưa có nghiên cứu khoa học công bố về khả năng điều trị đái tháo đường type 2. “Điều này cho thấy nhóm muốn tìm ra những ứng viên thực sự mới mẻ và chưa được khai thác”, TS Nam nhấn mạnh.
TS Nguyễn Minh Nam - tác giả chính của nghiên cứu. Ảnh: NVCC


Cần nhiều nguồn lực

Từ 570 hợp chất tự nhiên có tính chất giống thuốc, nhóm đã sàng lọc ra 17 hợp chất có kết quả mô phỏng cho thấy khả năng gắn kết tốt với PPAR-γ. Các hợp chất này có thể điều biến hoặc ức chế chọn lọc thụ thể PPAR-γ – cơ chế có thể giúp khắc phục tác dụng phụ của nhóm thuốc thiazolidinedione (TZD) hiện hành mà vẫn giữ được khả năng tăng nhạy cảm insulin. Truy xuất dược liệu chứa các hợp chất này cho thấy có 13 loại dược liệu đang phân bố tại Việt Nam.
TS Nam cho rằng, kết quả nghiên cứu mở ra hướng phát triển thuốc điều trị mới từ dược liệu tự nhiên, an toàn và hiệu quả, đồng thời tối ưu hóa việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên dược liệu trong nước. “Nghiên cứu của nhóm hướng đến các giải pháp điều trị an toàn hơn thông qua cơ chế chọn lọc dược liệu thuần Việt, giúp nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí trong nghiên cứu phát triển thuốc điều trị bệnh”, ông nói.
Để đạt được kết quả này, nhóm nghiên cứu phải sàng lọc một lượng lớn dữ liệu hợp chất, truy ngược lại các dược liệu tương ứng - quá trình đòi hỏi nhiều thời gian, sự tỉ mỉ trong phân tích, tổng hợp thông tin để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ. Đặc biệt, việc định danh chính xác loài dược liệu là yếu tố sống còn, bởi nếu xác định sai loài hoặc bộ phận của cây thuốc có thể làm mất đi giá trị nghiên cứu và dẫn đến kết quả sai lệch. Ngoài ra, một số dược liệu chỉ phân bố ở vùng núi cao hoặc khu vực khó tiếp cận, khiến việc thu thập trở nên tốn kém, mất thời gian và đòi hỏi logistics phức tạp.
Tuy nhiên, để phát triển thành thuốc điều trị, nhóm nghiên cứu nhận định còn cần nhiều năm nữa để thực hiện các bước tiền lâm sàng, thử nghiệm lâm sàng, đăng ký lưu hành và sản xuất thương mại hóa. Theo TS Nam, đây là giai đoạn đòi hỏi nguồn tài chính lớn, trong đó chi phí thử nghiệm lâm sàng chiếm phần đầu tư lớn nhất và kéo dài nhiều năm.
Việc phát triển thuốc từ dược liệu đòi hỏi đội ngũ chuyên gia liên ngành có trình độ cao và kinh nghiệm thực tiễn, từ thực vật học, hóa học, hóa dược, dược lý, sinh học phân tử, công nghệ sinh học, y học lâm sàng đến dược học cổ truyền… Bên cạnh đó là hệ thống cơ sở vật chất hiện đại phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất.
Theo nhóm nghiên cứu, các công trình khoa học liên quan đến phát triển thuốc cần có sự hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện và doanh nghiệp dược trong và ngoài nước nhằm chia sẻ kiến thức, công nghệ, tài chính và tiếp cận thị trường. Ngoài ra, cần có khung pháp lý rõ ràng, minh bạch về nghiên cứu, thử nghiệm, đăng ký và quản lý thuốc từ dược liệu. Việt Nam đã có quy định riêng cho thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu…, tuy nhiên cần hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế.

Sơ đồ kết quả nghiên cứu của nhóm. Ảnh: NVCC


Hỗ trợ điều trị bệnh

Đề tài nghiên cứu về sàng lọc dược liệu Việt Nam kháng đái tháo đường do TS Nguyễn Minh Nam - Trưởng Bộ môn Kỹ thuật Y sinh, Khoa Y, Trường Đại học Khoa học Sức khỏe (Đại học Quốc gia TPHCM) làm chủ trì. Tham gia thực hiện còn có ThS Nguyễn Thị Quỳnh Mai - nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Nhường, các sinh viên Trần Thị Khánh Linh, Vũ Hoàng Quỳnh Anh, cùng học viên cao học Nguyễn Thành Công (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TPHCM).
Theo ADA Standards of Care 2025 (tài liệu hướng dẫn chính thức hằng năm của Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ), điều trị đái tháo đường type 2 bao gồm nhiều phương pháp kết hợp: Thay đổi lối sống, sử dụng metformin như thuốc đầu tay nếu ăn uống và tập luyện không đủ hiệu quả, và có thể cân nhắc thêm các nhóm thuốc khác nếu cần. Một phương pháp khác là phẫu thuật chuyển hóa, áp dụng cho người béo phì nặng nhằm thúc đẩy khả năng thuyên giảm bệnh lý.
TS Nguyễn Minh Nam cho biết, mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm. Cụ thể, thay đổi lối sống có ưu điểm không gây tác dụng phụ nhưng đòi hỏi người bệnh kiên trì, hiệu quả cải thiện chậm và khó duy trì lâu dài. Dùng thuốc cho hiệu quả nhanh hơn nhưng có thể gây tác dụng phụ. Phẫu thuật có thể giúp thuyên giảm lâu dài, song là phương pháp xâm lấn, chi phí cao và có nguy cơ biến chứng.
Để khắc phục những hạn chế này, nhóm nghiên cứu đã tập trung sàng lọc các dược liệu Việt Nam có chứa hợp chất điều biến chọn lọc thụ thể PPAR-γ (yếu tố điều trị bệnh đái tháo đường type 2), nhằm tăng nhạy cảm insulin và giảm đường huyết, đồng thời hạn chế tác dụng phụ. Theo TS Nam, nhiều dược liệu truyền thống có độ an toàn cao hơn, ít gây tác dụng phụ so với thuốc tổng hợp. Ưu điểm khác là chi phí thấp, dễ tiếp cận, phù hợp với mức sống của người dân.
Từ cơ sở đó, nhóm xây dựng quy trình sàng lọc dược liệu thuần Việt dựa trên cơ sở dữ liệu hợp chất tự nhiên (LOTUS), nhằm thu thập thông tin về cấu trúc hóa học và nguồn gốc dược liệu. Sau khi phân tích và mô phỏng bằng phần mềm chuyên dụng, nhóm đã xác định được những hợp chất có tiềm năng điều trị đái tháo đường type 2.
TS Nam cho biết, nghiên cứu không bắt đầu bằng nhóm dược liệu cụ thể, mà sử dụng phương pháp sàng lọc dựa trên hợp chất. Cụ thể, nhóm tìm các dược liệu phân bố tại Việt Nam chứa những hợp chất có ái lực cao với thụ thể PPAR-γ, ưu tiên các hợp chất chưa có nghiên cứu khoa học công bố về khả năng điều trị đái tháo đường type 2. “Điều này cho thấy nhóm muốn tìm ra những ứng viên thực sự mới mẻ và chưa được khai thác”, TS Nam nhấn mạnh.
TS Nguyễn Minh Nam - tác giả chính của nghiên cứu. Ảnh: NVCC


Cần nhiều nguồn lực

Từ 570 hợp chất tự nhiên có tính chất giống thuốc, nhóm đã sàng lọc ra 17 hợp chất có kết quả mô phỏng cho thấy khả năng gắn kết tốt với PPAR-γ. Các hợp chất này có thể điều biến hoặc ức chế chọn lọc thụ thể PPAR-γ – cơ chế có thể giúp khắc phục tác dụng phụ của nhóm thuốc thiazolidinedione (TZD) hiện hành mà vẫn giữ được khả năng tăng nhạy cảm insulin. Truy xuất dược liệu chứa các hợp chất này cho thấy có 13 loại dược liệu đang phân bố tại Việt Nam.
TS Nam cho rằng, kết quả nghiên cứu mở ra hướng phát triển thuốc điều trị mới từ dược liệu tự nhiên, an toàn và hiệu quả, đồng thời tối ưu hóa việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên dược liệu trong nước. “Nghiên cứu của nhóm hướng đến các giải pháp điều trị an toàn hơn thông qua cơ chế chọn lọc dược liệu thuần Việt, giúp nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí trong nghiên cứu phát triển thuốc điều trị bệnh”, ông nói.
Để đạt được kết quả này, nhóm nghiên cứu phải sàng lọc một lượng lớn dữ liệu hợp chất, truy ngược lại các dược liệu tương ứng - quá trình đòi hỏi nhiều thời gian, sự tỉ mỉ trong phân tích, tổng hợp thông tin để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ. Đặc biệt, việc định danh chính xác loài dược liệu là yếu tố sống còn, bởi nếu xác định sai loài hoặc bộ phận của cây thuốc có thể làm mất đi giá trị nghiên cứu và dẫn đến kết quả sai lệch. Ngoài ra, một số dược liệu chỉ phân bố ở vùng núi cao hoặc khu vực khó tiếp cận, khiến việc thu thập trở nên tốn kém, mất thời gian và đòi hỏi logistics phức tạp.
Tuy nhiên, để phát triển thành thuốc điều trị, nhóm nghiên cứu nhận định còn cần nhiều năm nữa để thực hiện các bước tiền lâm sàng, thử nghiệm lâm sàng, đăng ký lưu hành và sản xuất thương mại hóa. Theo TS Nam, đây là giai đoạn đòi hỏi nguồn tài chính lớn, trong đó chi phí thử nghiệm lâm sàng chiếm phần đầu tư lớn nhất và kéo dài nhiều năm.
Việc phát triển thuốc từ dược liệu đòi hỏi đội ngũ chuyên gia liên ngành có trình độ cao và kinh nghiệm thực tiễn, từ thực vật học, hóa học, hóa dược, dược lý, sinh học phân tử, công nghệ sinh học, y học lâm sàng đến dược học cổ truyền… Bên cạnh đó là hệ thống cơ sở vật chất hiện đại phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất.
Theo nhóm nghiên cứu, các công trình khoa học liên quan đến phát triển thuốc cần có sự hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện và doanh nghiệp dược trong và ngoài nước nhằm chia sẻ kiến thức, công nghệ, tài chính và tiếp cận thị trường. Ngoài ra, cần có khung pháp lý rõ ràng, minh bạch về nghiên cứu, thử nghiệm, đăng ký và quản lý thuốc từ dược liệu. Việt Nam đã có quy định riêng cho thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu…, tuy nhiên cần hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế.

Chia sẻ
13 dược liệu điều trị bệnh đái tháo đườngnhóm nhà khoa họcđề tài nghiên cứuđiều trị bệnh đái tháo đường
Theo Hà An
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2025/08/03 07:07 (GMT+7)

Xem thêm Giáo dục thể chất

Theo dõi chiều cao, nhận biết bất thường tăng trưởng
Giáo dục thể chất

Theo dõi chiều cao, nhận biết bất thường tăng trưởng

Biến bất đồng thành đối thoại
Giáo dục thể chất

Biến bất đồng thành đối thoại

Chướng bụng, khó chịu sau bữa ăn có đáng lo ngại?
Giáo dục thể chất

Chướng bụng, khó chịu sau bữa ăn có đáng lo ngại?

Chuyển đổi số y khoa ở TPHCM: Bước tiến mới trong đào tạo, thực hành lâm sàng
Giáo dục thể chất

Chuyển đổi số y khoa ở TPHCM: Bước tiến mới trong đào tạo, thực hành lâm sàng

Quy trình chuẩn phòng chống ngộ độc thực phẩm trường học tại TPHCM
Giáo dục thể chất

Quy trình chuẩn phòng chống ngộ độc thực phẩm trường học tại TPHCM

Siết quản lý an toàn suất ăn bán trú, phụ huynh cùng tham gia giám sát
Giáo dục thể chất

Siết quản lý an toàn suất ăn bán trú, phụ huynh cùng tham gia giám sát

Mới nhất

2026-10-17 10:10

Ứng dụng AI trong khối ngành Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản

GD&TĐ - Chiều 16/10, tại Đại học Huế, Bộ GD&ĐT tổ chức Hội thảo khoa học “Ứng dụng Trí tuệ nhân tạo trong khối ngành Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản”.

Ứng dụng AI trong khối ngành Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản
2026-10-17 10:09

Tăng cường bảo vệ học sinh từ trường học đến cộng đồng

GD&TĐ - Hưng Yên tăng cường bảo đảm an toàn trường học, đẩy mạnh phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong phòng, chống xâm hại học sinh.

Tăng cường bảo vệ học sinh từ trường học đến cộng đồng
2026-10-17 10:09

Để AI thực sự trở thành trợ lý học tập

GD&TĐ - Trường học TPHCM đẩy mạnh ứng dụng AI, giúp giáo viên đổi mới phương pháp, hỗ trợ học sinh học tập chủ động, hiệu quả và an toàn hơn.

Để AI thực sự trở thành trợ lý học tập
2026-10-17 10:08

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa

GD&TĐ - Sở GD&ĐT Bắc Ninh vừa phát động phong trào “Trang sách hồng” nhằm tái sử dụng sách giáo khoa, hỗ trợ học sinh khó khăn và hạn chế lãng phí.

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa
2026-10-17 10:07

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề

GD&TĐ - Việc kiến tạo không gian kết nối, trải nghiệm thực tiễn và khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng vươn lên cho sinh viên là rất quan trọng.

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề
2026-10-17 10:07

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026

GD&TĐ - Cả 4 học sinh Việt Nam tham dự Olympic Vật lí quốc tế Al-Fergani 2026 đều đoạt huy chương, gồm 1 Vàng, 2 Bạc và 1 Đồng.

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026
2026-10-17 10:07

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026

GD&TĐ - Chương trình EDTECH VIETNAM – SEI Awards 2026 hướng đến tôn vinh sáng kiến, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong giáo dục.

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026
2026-10-17 10:06

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục

GD&TĐ - Triển lãm VIETEDU HANOI 2026 diễn ra tại Hà Nội, giới thiệu các giải pháp công nghệ phục vụ dạy học và quản lý giáo dục.

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục
2026-10-17 10:06

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập

GD&TĐ - Sáng 17/10, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm 75 năm thành lập (1951–2026).

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập
2026-10-17 10:05

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

GD&TĐ - Các nhà khoa học tập trung nhận diện những điểm nghẽn thể chế và động lực mới cho phát triển đất nước sau 40 năm đổi mới.

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới